KHAI SÁNG VÀ TRƯỞNG THÀNH

0
467

Kết quả hình ảnh cho bùi văn nam sơn

KHAI SÁNG  TRƯỞNG THÀNH


Khi trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì? Kant bảo: “Khai sáng là sự thoát ra của con người khỏi tình trạng chưa trưởng thành (nonage) do chính con người tự gây nên…”.  phương châm để Khai sáng (khai minh/ khải mông) là gì? Ta hãy dám biết  hãy can đảm sử dụng lý trí của chính mình.

Bài gỡ băng sau đây từ buổi nói chuyện của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn với chủ đề Khai sáng  Trưởng thành tại diễn đàn Talk&Think do Sách Hay tổ chức sẽ cho chúng ta nhiều thứ để xúc cảm  suy tư.

*
*  *

1. Trưởng thành là đại thức tỉnh

Triết học không phải là chuyện gì đó khô khan, xa vời khiến người ta ngán ngại. Cách đây chừng 200 năm, triết gia Hegel (Đức) tới khai giảng tại Đại Học Berlin với môn Triết học  ngạc nhiên khi số lượng sinh viên tham gia đông hơn những gì ông nghĩ. Với niềm vui đó, ông đã viết trong giáo trình của mình những câu rất cảm động: Hóa ra, nước Đức đã trưởng thành, họ đã bỏ sau lưng mình những đau khổ, tủi nhục của sự thất trận  của sự ê chề nhục nhã để bắt đầu sự bình an trong tâm hồn để có thể dành một lỗ tai cho triết học  như thế chứng tỏ nước Đức còn có tương lai.

Đừng quên rằng, năm 1807, Đức còn là nước Phổ, thua trận tan nát, bị Napoleon chiếm hoàn toàn  nước Phổ không còn gì, lại phải bồi thường số tiền gấp 16 lần thu nhập quốc dân. Cả nước Đức khi ấy xơ xác tiêu điều, thế nhưng chỉ mười mấy năm sau đó, Đức đã gượng đứng dậy mà còn đứng thẳng lưng thành một nước hùng cường nhất châu Âu, một trung tâm của khoa học, triết học, kĩ thuật, thương mại  là hình mẫu phát triển của thế giới vào giữa thế kỷ 20. Rõ ràng, phải có một số điều kiện nào đó thì triết học mới trở lại với cuộc sống  đóng góp phần nào đó cho việc hồi sinh một dân tộc tưởng đã bị gục ngã trước hoàn cảnh khắc nghiệt.

Hôm nay, trước sự có mặt đông đảo của các bạn trẻ, tôi thực sự cảm động, không chỉ với cá nhân tôi mà nói to tát như nhà triết học Hegel là các bạn đã dành một lỗ tai cho tư tưởng, cho sự trở lại, sự đứng dậy của tinh thần dân tộc.

Đề tài ngày hôm nay, không biết có phải ngẫu nhiên hay không mà rơi trúng vào thời điểm mà hơn lúc nào hết, hết sức bức xúc; một thời điểm mà nơi đó, tiếng gọi đại tỉnh thức, tỉnh ngộ, giật mình đã trở thành nhu cầu hết sức khách quan, đương nhiên. Chưa lúc nào như lúc này sự thức tỉnh lại trở nên lớn lao như thế. Cho nên, khai sáng hay trưởng thành thực chất là thức tỉnh, xét về mặt lịch sử đó là cơn giật mình, những cơn tỉnh ngộ lớn của nhân loại.

Bản thân tôi không phải là nhà sử học nên không thể trả lời câu hỏi lịch sử nước ta nói chung, châu Á nói riêng đã có mấy lần đại thức tỉnh? Đây là câu hỏi mà các nhà sử học phải trả lời,  các bạn trẻ thử tìm hiểu xem. Trong khi ở châu Âu Bắc Mỹ người ta đã trải qua nhiều đợt đại thức tỉnh. Nếu không có những đợt đại thức tỉnh đó thì không có Âu Mỹ ngày hôm nay, không có nền văn minh Âu Mỹ hiện đại như ngày hôm nay.

Tại sao, sự đại thức tỉnh đó lại xảy ra ở Âu Mỹ mà chưa thấy nổi bật ở phương Đông. Trong khi, phương Đông chúng ta có những nhà đại tư tưởng, những bậc giáo chủ với nền văn minh nổi bật mà đọc lịch sử chưa thấy nổi bật giai đoạn nào gọi là đại thức tỉnh của châu Á hay nói riêng dân tộc mình?

“Khai sáng”  “Trưởng thành” thực chất là một, cái này là hậu quả của cái kia, cái kia là nguyên nhân của cái này, không thể tách rời nhau: Sẽ không trưởng thành nếu không có nhu cầu khai sáng  ngược lại không khai sáng thì không thể trưởng thành được. Hai khái niệm này nó quyện chặt vào nhau  có nghịch lý, giống như câu chuyện con gà  quả trứng, cái nào có trước, cái nào có sau: cần khai sáng trước rồi mới đến trưởng thành hay là đợi trưởng thành rồi mới khai sáng?

 

2. Khai sáng – lịch sử một diễn trình

Hằng ngày, chúng ra dùng rất nhiều khái niệm, chẳng hạn tự dodân chủvăn hóa hay thậm chí trừu tượng như ý thứclý tính… nhưng ít khi ta đặt câu hỏi thuật ngữ đó từ đâu mà ra. Mỗi một thuật ngữ, mỗi một từ như vậy đều có một lịch sử, nghĩa là có cả một diễn trình chứ không phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống.

Ví dụ, khái niệm “tự do” từ đâu mà có, rồi người Việt Nam tiếp thu chữ này như thế nào? Như thế hệ bố tôi (nếu cụ còn thì năm nay chừng 110 tuổi) không hề biết tới khái niệm “tự do”, bởi với Nho học khái niệm đó rất bậy bạ. “Tự do” có nghĩa là tự tung tự tác, vô phát vô thiên. Tóm lại là các nhà Nho rất dị ứng với từ đó. Mà không chỉ ở ta, đầu tiên là ở Nhật, những nhà Nho học lúc bấy giờ phản đối, không có khái niệm “freedom”. Mãi tới 50 – 70 năm, từ phong trào Minh Trị Duy Tân, người ta mới chấp nhận “tự do” theo nghĩa tích cực thông thường.  phương Đông mình bắt đầu tiếp thu theo nghĩa đó của nước Nhật, từ đó chúng ta có khái niệm tự do.

Mỗi một khái niệm đều có lịch sử  mỗi khái niệm làm nên lịch sử, khi nó ra đời phải tiền giả định xã hội văn hóa nào đó khiến cho nó ra đời được.  khi nó đã ra đời rồi thì bản thân nó sẽ làm lay chuyển xã hội, lay chuyển tư duy, thay đổi nếp sống. Đó là trường hợp của chữ “khai sáng”  “trưởng thành” như là hai trong nhiều ví dụ khác. Xin nói chữ “trưởng thành” trước, sau đó sẽ đề cập đến “khai sáng”.

Chữ “trưởng thành” đối với mình nó thông thường quá, trong từ điển hoặc ngoài đời hay nói đứa bé đã trưởng thành hay người đó hết tuổi vị thành niên. Thông thường, tuổi 18 đánh dấu sự trưởng thành, trưởng thành về mặt sinh lý  bắt đầu phải chịu trách nhiệm về mặt công dân , nghĩa là năng lực pháp lý. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, cái nói lên sự trưởng thành thật sự phức tạp hơn nhiều. Ngày nay có cả một môn học gọi là Lý thuyết về sự trưởng thành, một bộ phận của môn giáo dục. Học sư phạm là học về giáo dục, học về lý thuyết sự trưởng thành  mục tiêu giáo dục là đào tạo sự trưởng thành. Nó là lý thuyết phức tạp, có nhiều trường phái, chủ trương  nhiều tranh luận.

Phương Đông mình mặc nhiên vẫn có đề cập về sự trưởng thành nhưng không hình thành một lý thuyết đầy đủ. Chẳng hạn, Nho học ngày xưa phân cuộc đời thành nhiều giai đoạn, nổi tiếng là lý thuyết của Khổng Tử. Theo ông cuộc đời chúng ta phân ra nhiều giai đoạn. Ông nói: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, Tam thập nhi lập, Tứ thập nhi bất hoặc, Ngũ thập tri thiên mệnh, Lục thập nhi nhĩ thuận, Thất thập tòng tâm, sở dục bất du củ”. Nghĩa là “Mười lăm tuổi chuyên học, Ba mươi lập chí vững, Bốn mươi không ngờ vực, Năm mươi biết mệnh trời, Sáu mươi nghe thuận lẽ trời, Bảy mươi làm theo sở thích nhưng không vượt đạo lý”.

Chia sẻ ấy của Khổng Tử thật sự gần gũi  khát quát, đó là chưa kể tới Lão Tử, Đức Phật…

Nhưng nhìn lại lịch sử giáo dục phương Đông chưa nổi bật lên học thuật có đầu có đuôi có biện pháp, có công cụ thực hiện cho cái gọi là lý luận về sự trưởng thành trong khi đó lại là cốt lõi của lý thuyết sư phạm ở phương Tây. Bởi người ta cho rằng trưởng thành không chỉ là về mặt sinh lý hay pháp lý, nó đòi hỏi 4 điểm: 1. Con người tự do; 2. Tự trị;  3. Có năng lực chính trị, có khả năng tham gia công việc quốc sự; 4. Phản tư, phản tỉnh, suy nghĩ được về chính mình  môi trường xung quanh mình từ đó thiết kế cuộc đời mình một cách tích cực (tôi muốn tôi thành cái gì, tôi tự thiết kế cuộc đời tôi, tôi tự tổ chức cuộc sống của tôi…).

Trưởng thành là lý tưởng giáo dục kinh điển, ít ra là ở phương Tây. Xoay quanh vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau. Ở đây, ngoài quan niệm nổi tiếng của đức Khổng Tử vừa nói trên đây, ở phương Tây có 3 nhân vật cần lưu ý, thứ nhất là Rouseau, nhà tư tưởng vĩ đại nước Pháp; thứ hai là Immanuel Kant, người Đức thứ ba là Adorno – triết gia hiện đại người Đức.

Ông Rouseau bảo rằng con người muốn trưởng thành cần 3 yếu tố hay 3 quyền lực: thứ nhất là thế giới tự nhiên, thứ hai là thế giới đồ vật  thứ 3 mới đến con người (cha mẹ, thầy giáo, bạn bè…). Phải có ba yếu tố này con người mới trưởng thành được. Giới tự nhiên  đồ vật bất động nó không thay đổi trong khi con người là cái gì đó khả biến, thay đổi được, cho nên trưởng thành chủ yếu dựa nào năng lực của con người, có thể là bản thân mình, cha mẹ mình, người giáo dục mình, bạn bè mình, những người xung quanh mình… Với ông ba yếu tố đó trở thành 3 nhà giáo dục, quyết định sự trưởng thành của chúng ta, trong đó con người là yếu tố then chốt.

Có những người xuất sắc nói rằng tôi không cần thầy cũng trưởng thành. Đó là những hiện tượng hiếm hoi  vô cùng quý giá. Nhưng không phải ai cũng đạt được cái mức độ không cần học, không cần thầy mà trưởng thành. Những kẻ tầm thường như chúng ta thì phải có thầy mới có thể trưởng thành được. Giáo dục, do vậy, theo quan điểm của Rouseau là để đứa bé sống trong tự nhiên, làm việc với đồ vật  với sự hướng dẫn của người thầy mới trưởng thành. Tư tưởng này được Rousseau trình bày rất thuyết phục trong cuốn sách hấp dẫn “Émile hay là về giáo dục” đã được dịch  xuất bản bằng tiếng Việt. Cuốn sách nói về quá trình giáo dục đứa trẻ từ khi mới sinh ra cho đến khi trưởng thành, làm sao để Émile có được cả 4 yếu tố như đã nói ở trên. Nghĩa là trưởng thành là phải thông qua giáo dục.

Quan điểm thứ 2 cũng rất nổi tiếng là của Imanuel Kant, một đại triết gia, chừng mực nào đó có thể coi là “cha đẻ” của khái niệm “Khai sáng”. Toàn bộ sự nghiệp của Kant rất đồ sộ, trong đó nổi bật là bài luận ngắn chừng 10 trang với nhan đề: “Để trả lời câu hỏi thế nào là khai sáng?”. Đây là một bài viết rất hay, ngắn gọn, dễ hiểu  tập trung tinh hoa của cả một thời đại. Ông định nghĩa: “Khai sáng là ra khỏi trạng thái vị thành niên hay trạng thái chưa trưởng thành do tự mình chuốc lấy”. Câu này nó sâu sắc ở chỗ “do tự mình chuốc lấy”, nghĩa là trạng thái vị thành niên, chưa trưởng thành là do tự anh gây ra cho anh chứ không do vấn đề tuổi tác hay hoàn cảnh xã hội. Một người năm mươi tuổi, bảy mươi tuổi vẫn vị thành niên như thường. Đó là lí do mà nhà thơ Tản Đà nói: “Dân hai lăm triệu ai người lớn / Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”.

Cái lỗi này là do tự mình chuốc lấy chứ không phải khách quan. Bởi vì, Kant nói tiếp ngay sau đó, rằng cái vị thành niên, trạng thái chưa trưởng thành này không phải do anh thiếu trí khôn, thiếu đầu óc mà do anh thiếu dũng cảm dùng chính cái đầu của mình mà không có sự hướng dẫn của người khác. Nghĩa là do sự lười biếng  sự nhát sợ.

Thứ nhất, làm theo hướng dẫn của người khác thì thoải mái, anh mang xiềng xích đã quen rồi, bây giờ tháo xiềng xích ra thì thấy bơ vơ, lúng túng, mất thoải mái. Không có gì sung sướng  thoải mái bằng cái gì cũng có người khác hướng dẫn: học thì có thầy; đau ốm thì có bệnh viện, bác sĩ; làm việc thì có sếp, có chỉ đạo, có chỉ thị, cứ thế mà làm; về tư tưởng thì có người khác hướng dẫn cho…

Thứ hai là thiếu sự dũng cảm bởi vì sử dụng đầu óc của mình thì một là rất mệt vì phải động não  hai là nguy hiểm vì có thể bị thách thức bởi các định chế xã hội. Không có gì nguy hiểm bằng việc tự mình mở con đường mà đi, chưa nói những trở lực, cạm bẫy… Cho nên, với Kant, trưởng thành là phải vượt ra sự lười biếng, sự thiếu dũng cảm để sử dụng chính cái đầu của mình.

Vậy, lấy gì để chứng minh rằng mình đã sử dụng cái đầu của mình? Ai cũng bảo là tôi rất trưởng thành, tôi luôn suy nghĩ bằng cái đầu của tôi. Lấy gì để chứng minh?

Nếu anh chỉ sử dụng cái đầu của anh cho chính anh thì nguy hiểm ở chỗ là tôi không không kiểm tra được trong đầu của anh có cái gì trong đó không, hay là trống rỗng. Mà nếu trống rỗng thì việc sử dụng kia là vô ích. Chuyện này Đức Khổng dạy từ lâu: Học mà không suy nghĩ thì sai lầm nhưng suy nghĩ mà không học thì vô ích.

Nhưng có một tình trạng rất phổ biến là mỗi người đều mang một lúc hai, ba vai trò: khi vào trong cơ quan tôi là nhân viên, khi đi vào quân đội tôi là người lính… Bình thường lẽ đời là làm công chức hay người lính thì đều phải chấp hành kỷ luật, mệnh lệnh thì công việc mới trôi chảy. Nhưng mặt khác ta muốn suy nghĩ bằng cái đầu để chứng tỏ là trưởng thành như ông Kant nói thì lại mâu thuẫn quá.

Kant mới đưa ra giải pháp  giải pháp này chính là động lực của phong trào khai minh của phương Tây. Ông nói: Chẳng có cách nào cả, ngoài việc anh công khai hóa nó, chỉ khi công khai hóa thì tôi mới biết anh có gì trong đầu thì khi đó mới trưởng thành được. Nhưng anh chỉ giữ trong đầu mình mình biết, cũng tốt nhưng không có ích lợi cho xã hội.

Tư tưởng muốn độc lập thì phải có khả năng thông báo cho người khác, Kant gọi là tính thông báo phổ quát. Tư tưởng sẽ chết ngạt trong phòng kín, không giao thương với người khác, tư tưởng sẽ không thể hiện sự trưởng thành nếu nó không được công khai hóa để mọi người bàn bạc, tranh luận, trao đổi. Kant đề xuất giải pháp rất đơn giản là: Nếu là người lính, tôi phải chấp hành mệnh lệnh quân đội nhưng sau khi đánh nhau xong, với tư cách là một học giả, tôi có quyền phê phán đường lối quân sự của nước tôi, tôi có quyền phê phán đường lối chỉ huy của tổng tư lệnh nước tôi bằng các luận cứ đường hoàng, thuyết phục  công bố công khai. Nghĩa là với tư cách là một người lính, một viên chức, tôi sẽ chấp hành mệnh lệnh, quyết định của cấp trên nhưng đồng thời với tư cách là một học giả tôi có quyền công khai điều tôi suy nghĩ, tôi có quyền thể hiện sự trưởng thành của tôi  tôi chịu trách nhiệm về những gì mình công khai.

Nghe thì hay nhưng xung đột thì sao? Nếu anh viết ra công khai mà mâu thuẫn với đường lối, chủ trương của trên thì sao? Chẳng có con đường nào khác để thể hiện sự trưởng thành là hãy từ chức công khai để trở thành một học giả, nếu thấy rằng việc làm đó không phù hợp với lương tâm  thấy rằng mình không thể cùng chịu trách nhiệm với vấn đề đó được.

Do vậy, Kant mới đưa ra một nhận định rằng ngòi bút là thần linh của pháp quyền, muốn có một nhà nước pháp quyền thì ngòi bút phải là thần linh tức là công khai, cần khoa học công khai, cần tự do báo chí, tự do công luận… nếu không có thì trưởng thành chỉ là một giấc mơ mà thôi.

Ông thứ ba là Adorno, hiện đại, gần mình hơn  là một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của nước Đức, người đã góp phần hình thành phong trào cánh tả Âu châu ở những năm 60, 70  là hạt nhân của trường phái Frankfurt, trường phái hết sức nổi danh của triết học hiện đại. Adorno tiếp tục phát triển tư tưởng của Kant, tiếp thu tâm phân học của Sigmund Freud kết hợp với triết học hiện sinh lúc bấy giờ để đưa ra quan niệm khác về trưởng thành.

Theo đó, bất cứ ai khi lớn lên thì đều mang hình ảnh của người cha trên đầu mình, không nhất thiết phải là người sinh ra mình bằng xương bằng thịt, mà là thần tượng, bậc thầy, một người làm mẫu mực cho mình. Không ai không có một hình ảnh người cha tâm lý, ngay cả người thất học cũng có. Vấn đề là làm sao để tìm được “người cha” ấy là ai.

Hình ảnh người cha đó quyết định tiến trình trưởng thành của mình. Nếu may mắn anh có một người cha tinh thần thật nhân ái, thật cao thượng, thật đẹp đẽ, thật hoàn thiện thì người cha đó sẽ nâng bước anh đi suốt cuộc đời. Đó là một bậc giáo chủ, một bậc tiên tri, một nhà tư tưởng, một nhà văn hóa lớn đứng sau lưng.  rất nhiều người trong đời đã may mắn ngay từ khi sinh ra đã có người cha tinh thần đúng nghĩa. Bao nhiêu những tu sĩ, những nhà giác ngộ, họ đạt được những đỉnh cao về mặt tư tưởng là nhờ họ may mắn gặp được người cha tinh thần nào đó. Còn bình thường chúng ta thì cũng có người cha tinh thần nhưng thường rất khó nhận diện. Phải tìm cho ra người cha tinh thần, hãy tự vấn xem những gì ta suy nghĩ hôm nay, ta đang làm hôm nay  ta dự định làm ngày mai có thực chất ta làm không hay là tiếng gọi của một hay nhiều người cha tinh thần nào đó đứng sau lưng mình. Chính việc tự giác như vậy, tự vấn như vậy cũng là một bước để trưởng thành.

Ardono đưa ra một nghịch lý quá trình trưởng thành thực chất là hành động “giết cha”, có “giết cha” thì mới trưởng thành, đó là bi kịch, là đau đớn, là thảm họa cho bản thân mình. Phải vượt qua được người cha tinh thần hay ít nhất là cãi lại lời cha. Hãy đặt lại, xét lại niềm tin, lý tưởng, hay ít nhất cũng phải đối thoại được với người cha mà lâu nay mình chỉ nghe theo. Đây là quá trình đau đớn, thậm chí người ta tự tử vì sụp đổ niềm tin, vì không còn chỗ dựa tinh thần, vì mình phản bội lại người cha tinh thần của mình, phản bội những lý tưởng mình đã theo đuổi từ nhỏ. Thay đổi quê hương tinh thần là biến cố lớn nhất trong đời  đó có thể là con đường của phước, con đường của họa. Nhưng chính bản thân nó đánh dấu sự trưởng thành.

Nghĩa là Ardono đã đi tiếp lý tưởng của Kant, đánh giá sự trưởng thành ở mức độ vượt qua được hình tượng “người cha tinh thần”  liên tục đối thoại với “người cha” ấy. Đó là lý do vì sao có nhiều nhà tư tưởng, văn hóa phương Tây cả đời họ là một chuỗi những đau khổ, một chuỗi những thay đổi quan điểm, một chuỗi những lựa chọn mới mẻ, bất ngờ. Có những người nhất quán từ đầu một đường đi, có những người thay đổi quan điểm 180 độ, kể cả cuối đời vẫn thay đổi tư tưởng.

Đó là sự khác biệt giữa phương Đông  phương Tây. Người phương Đông chúng ta nhiều khi không chia sẻ được, tại sao cả đời ông ta theo cái đó nhưng cuối đời lại xét lại hoàn toàn, tự phủ nhận toàn bộ học thuyết, đánh đổ toàn bộ niềm tin, thú nhận thất bại… Nhưng thực ra, thất bại đó chính là thất bại vĩ đại, là thành công

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

5 × two =