Nguyễn Tuân “Chùa Đàn”

0
527

Nguyễn Tuân “Chùa Đàn”
 
Về việc viết “Chùa Đàn”, Nguyễn Tuân kể: “Tôi (…) mải miết viết (…) sau một tuần là xong (…) cái phần chủ yếu (…) cuối năm 1945. Đến năm 1946, tôi thêm phần đầu và phần cuối để dễ xuất bản” (,). Tại sao phải thêm mới dễ? Vì đã Cách mạng mùa Thu rồi, nhà văn đã theo Cách mạng rồi, mà “cái phần chủ yếu” lại quá cũ.
Cũ thì không hợp thời chứ không phải kém giá trị. Về tính hợp thời, mãi đến năm 1981 vẫn chưa ổn: Tuyển tập Nguyễn Tuân ra đời vắng bóng “Chùa Đàn”. Dịp ấy tác giả tâm sự: “Tôi tiếc cái Chùa Đàn quá. Họ cắt cái Chùa Đàn khỏi tuyển tập này, cũng giống như cắt cái gan ra khỏi bụng tôi”. “Cái gan” cắt đã được đưa lại vào “bụng” từ lâu.


Nhà văn Nguyễn Tuân

Đọc “Chùa Đàn”, hình như đa số độc giả đặc biệt thích thú những chi tiết quái lạ, đua nhau trầm trồ óc tưởng tượng phong phú của người viết. Một số bắt bẻ: “Phét, Cậu Lãnh nào phải như em trai Đặng Thị Huệ mà…”. Tiếc quá! Nguyễn Tuân”mải miết”làm văn chương chứ có phải hết sức nặn óc mình ra chi tiết hấp dẫn để giải trí cho ai đâu. Còn nhân vật trong truyện không giống ngoài đời thì chắc chắn cũng như khi sáng tác tất cả những “Yêu ngôn” khác, Nguyễn Tuân không hề chú ý đến tính hiện thực của bất cứ cái gì, kể cả nhân vật.
“Yêu” dù quái đến đâu cũng chẳng qua cái cớ. “Ngôn” mới là thật. “Ngôn” thế nào cho có “yêu” trong “ngôn” mới là cái lý do khiến “tôi” say sưa viết và xót xa khi bị “cắt”…

Đọc “Chùa Đàn”, chắc nhiều người nhớ những truyện quái dị của Edgar A. Poe. Hai đằng không giống nhau đâu.
Tác phẩm của Poe câu chuyện đặc biệt ly kỳ nhưng cảm giác cảm xúc sơ sài xoàng xĩnh. Trong khi những “Yêu ngôn” của Nguyễn Tuân chuyện có lẽ không ly kỳ bằng nhưng lại chứa đầy những “cảm” vô cùng tinh tế. Câu chuyện “Yêu ngôn” chỉ có vai trò dựng lên những khung cảnh kỳ lạ cho tác giả nhập vào đó mà tha hồ tưởng tượng ra những cảm giác cảm xúc độc đáo mà say sưa sáng tạo văn chương.
Lời kể chuyện mặc sức dịch ra bất cứ ngôn ngữ nào. Lời gợi cảm không dịch được. Vẫn cái thất thế tự nhiên của thứ văn chương đích thực của dân tộc Việt Nam.

“Chùa Đàn” (như viết cuối năm 1945) có thể chia làm ba phần.
Phần đầu dựng cái duyên cớ khiến một người phải kỳ công đi rước cho được một tiếng hát về để cho một người nghe. Vì mới là “nền”, nên chưa chứa bao nhiêu “lời (đẹp đến mức) yêu quái”. Sau đây chỉ nên coi như chút tín hiệu để báo trước cơn “yêu ngôn” sẽ đến:
“Giấy tranh bồi cọ loạt soạt vào tường phòng vắng rộng (…) Màu xanh tái của tranh gia thêm xa lạ vào khí buồng rộng quạnh và đổ thêm buồn lên vẻ nhớ vợ của người ngắm tranh (…) Cậu Lãnh khóc to dân mãi lên, gợi đến cái thống khổ của toàn thể một đám chuyển cữu (…) Rồi tiếng khóc vụt rống lên in hệt cái tiếng người rừng – mình mẩy mọc lông móng chân móng tay hóa ra vuốt – bỗng phẫn nhớ đến nhân loại bị xa cách lâu ngày. Cơn khóc rống đã đổi sangthành tiếng hú hồn. Gió hiu hiu trên nương dâu, kéo lê thê những tiếng thảm rợn ấy xuống những vùng phụ cận thấp xa (…) Cỏ gò chôn rượu bừng dậy chật xanh bóng thạch sương bồ (…) Những tiếng chìm chìm sương rừng gieo xuống những tiếng đục đục loài kim khảo ruột loài thổ (…) Ánh sáng thản nhiên của bạch lạp tỏa quanh áo tang khăn trắng người tửu đồ tình chủng đang vò võ đối mặt vào tranh lạnh”.
À, cái bài hò kéo cây gạo vặt hết “ta” với “dô ta” đi, cũng ngộ:
“Một ngày đã ngả bóng dâu Trở về ấp Thảo
tưới dâu chăn tằm…
Rừng thiêng ngả cỗi sơn lâm Lần lừa ấp Thảo
trông tằm thương dâu Con người rút ruột con sâu Đem tơ trả miếng lá dâu xót lòng”
Cái ông nhà văn ngồi đung đưa “trên chiếc võng đay trong ngôi nhà của bà Chu ở Bần Yên Nhân” hí hoáy viết “Chùa Đàn”, ông ấy đã giác ngộ cách mạng rồi mà còn, nhỉ. Ờ, thì cũng mới…, chẳng viết cho xong “Chùa Đàn”, sao gọi được là đoạn tuyệt có hậu với những cái “Vang (và) bóng (của) một thời” l
Phần thứ hai của “Chùa Đàn” kể cái “kỳ công”. Bà Nhỡ đến cầu Cô Tơ tất cả ba lần, y như Lưu Bị”tam cố thảo iư’Khổng Minh. Trước lần gặp thứ nhất là công phu liều chết đi tìm; giữa lần thứ nhất và lần thứ hai là “tử công phu” luyện lại ngón đàn đáy; sau lần thứ hai là công phu tự chất vấn mình căng thẳng đến nỗi tóc hóa bạc không chừa một sợi!…
“Ta có nên quyến luyến với cái thể xác ta nữa không? Ta thử nghĩ xem ta có còn để dành ta vào việc gì khác không? Hay những ngày mai ngày kia cũng chỉ là sự tái diễn của ngày này thôi! (…) Hình như ta sắp đọc thấy cái ý nghĩa của thời giờ ta đang tiêu đây. Ta học nghề đàn, ta phải đánh lên thành tiếng, dẫu rằng đời chơi đàn của ta chỉ vẳng được lên có một lần (… ) cầm đến cây đàn Chánh Thú ấy mà đánh lên thì cái thác của đời tằm nào mà chẳng là say sưa. Nhả cái tơ lòng ấy ra, đánh lên cái tơ ấy cho dội vang lên một giây phút của thời gian rồi mà hết luôn với tất cả chung quanh! (…) Đã nhìn thấy cây đàn cũ ấy thì phải đánh – đánh cái cuộc đời mình vào đấy – để rồi xem nó thành được ra tiếng gì”.
Hạ quyết tâm rồi, Bá Nhỡ ngồi đối ẩm với Cậu Lãnh, vừa rượu vừa đàn cho cậu nghe chơi ngón đàn mình vừa luyện xong sắp sửa đem đi thuyết phục Cô Tơ:
“Hơi rượu ủ lấy hơi tơ. Tiếng gày kẹp lấy tiếng rót. Thời gian thản nhiên lướt trên hai cái tâm sự. Một người uống để kéo dài đời mình ra bằng sự nhớ thương một cái bóng trắng. Một người đánh đàn để càng cảm thấy rằng đời mình rồi sắp là cuộc đời của một sợi tơ do tay mình cấu đút”.
Ở nhà Cô Tơ, sau chuyến thăm thứ hai của Bá Nhỡ, tình hình cũng không yên ổn gì cả. Nhà vốn có một con ma là ông Chánh Thú chồng quá cố của cô và một cây đàn đáy ma là đàn của ông.
“Đêm nọ gân về sáng, Cô Tơ nửa thúc nửa ngủ chờn chợn nghe thấy tiếng người rón rén đi từ trong buồng thờ ra. Cô quay mặt lại phía cửa màn thì đã thây ông Chánh Thú đúng sững đấy, áo xô gai rộng tay và hoen ố (…) Một con đom đóm vờn bay trên cây đàn nhễ nhại mồ hôi. Trên nền tang đàn gỗ ngô đồng, có những đốm lân tinh lập loè. Cô Tơ lại gân nhìn mới biết đấy là máu của dây đàn đút. Đâu các dây còn rung lên, ruột sợi tơ rỉ tuôn ra một thú nước đặc sệt như máu con giời leo và xanh đục như ruột bọ nẹt. Chất ấy đọng thành giọt ở các đâu dây và loé tia xanh lạnh lên dưới cái sáng chờn vờn của lửa con đóm”.
Có một người còn sống đang quyết chết là Bá Nhỡ. Có một hồn ma đang quyết bắt Bá Nhỡ chết để nó được đi đầu thai là hồn Chánh Thú.
Công việc dàn dựng đích đáng cho một chầu hát phi thường coi như đã xong.

Đến nơi rồi! Chiếc cáng chở một người cần nghe hát để nguôi nhớ vợ đã vào đến sân nhà một người sau khi chồng chết đã thề thôi hát. Theo sát bên cáng là một người muốn “đánh cái cuộc đời mình” vào một cây đàn ma để xem “nó thành được ra tiếng gì”. Chầu hát Cô Tơ Bá Nhỡ Cậu Lãnh bắt đầu.
Bá Nhỡ thử dây, vặn trục đàn. Trục nghiến gắt và nấc dân mãi lên. Cân đàn ôm sát vào mặt, Bá Nhỡ ngửi thấy một mùi tanh tanh và gỗ đàn đã truyền sang lòng tay một chất nhờn sánh. Buông đâu gảy xuống dây, đàn vẳng ngân một tiếng cuồng loạn (…)
Chưa bao giờ Cô Tơ thấy rõ cái đau khổ ngậm ngùi của tiếng đàn đáy buổi này. Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kết cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết được ra. Nó là một nỗi ủ kín bực dọc bưng bít. Nó giống như cái trạng huống than thở của một cảnh ngộ vô tri âm. Nó là cái tấm túc sinh lí của một sự giao hoan lưng chừng. Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó là cái dư ba của bể chiều đút chân sóng. Nó là cơn gió chẳng lọt kẽ mành thưa. Nó là sự tái phát chúng tật phong thấp vào cữ cuối thu dâm dề mưa ẩm và nhức nhối xương tủy. Nó là cái lả lay nhào lìa của lá bỏ cành. Nó là cái lê thê của nấm vô danh hiu hiu ngọn vàng so le. Nó là cái oan uổng nghìn đời của cuộc sống thanh âm. Nó là sự khốn nạn khốn đốn của chỉ tơ con phím. Nó là một chuyện vướng vít nửa vời.
Tiếng đôi lá con cỗ phách Cô Tơ dồn như tiếng chim kêu thương trên dậm cát nổi bão lốc. Nhiều tiếng tay ba ngừng gục xuống bàn phách, nghe tàn rợn như tiếng con cắt lao mạnh xuống thềm đá sau một phát tên. Tay phách không một tiếng nào là nhụt. Mỗi tiếng phách sắc như một nét dao thuận chiều (…)
Máu chảy ra nhiều quá. Toàn thân Bá Nhỡ đỏ ngòm. Áo quân màu trắng của Bá Nhỡ vụt trở nên vóc đại hồng, trông hệt một người phục sức để ăn thượng thọ. Người Bá Nhỡ đã là một cái vại đựng chất lỏng có nhiều chỗ rò rỉ. Máu trong cơ thể Bá Nhỡ cứ đều một dòng tuôn mà thấm lậu ra ngoài, Bá Nhỡ đã thây khát nước. Và khắp mình mẩy, xót nhức không biết đến đâu là chừng hạn nữa. Mỗi tiếng đàn là một miếng thịt lẩy ra. Tí một, tiếng đàn đưa nhau về nơi vĩnh quyết. Tùng. Tang. Tùng. Tùng! Tụng. Bá Nhỡ vấp một chỗ nhấn, đâu ngón chừng đỗi giây lát trên mõ phím cao quyện huyết (…) Vừa có một mũi kim nào châm vào cái đốt cuối xương sống Bá Nhỡ, làm cho cây đàn đột ngột bật hẳn cân dọc lên. Rồi không rõ từ đâu vào, vẫn ở đoạn xương sống, có rất nhiều hạt muối lạo xạo đánh loãng chất tủy người đang gò đàn. Ruột nhũn hẳn ra, óc se thắt lại, chỉ còn có cái tâm Bá Nhỡ là điều động với lớp tơ trúc dật dờ.
Gân tay Cô Tơ xuống phách đã có chiều lảo đảo vì chuột rút. Hạt châu lẩy bẩy đọng trên môi người hát, sáng đục như mắt chuồn chuồn. Phải nuốt nước mắt mặn chát tuôn đều với máu người đàn đối diện, tiếng hát Cô Tơ có nhiều chữ buông bắt đã hết vuông hết tròn. Tiếng hát đã sa làn rồi khê và mực hát đã có chỗ bửng. Cả hát cả đàn đang dắt tay nhau sa lây trên cái mênh mông bùn sũng ngào vỏ ốc, mờ rộng xanh lơ ngút chân trời. Cô Tơ rùng mình. Hình như đây là pháp trường đang có những tiếng mớm chiêng đồng. Như ăn phải bát cháo lú bên sông Hắc Thủy, Cô mê thiếp đi. Tiếng hát méo dân. Thoáng một tiếng dây đàn đứt. Cô choàng tỉnh để nhận cái đâu tơ ấy bắn vào mặt. Thái dương Cô tê dại trong khoảnh khắc. Rồi vững lại tay phách, chỉnh lại hơi cổ hơi mũi, Cô Tơ hát bây giờ mới vượt qua những đỉnh nhọn của thế giới âm thanh. Tiếng hát mọc cánh, thăm thẳm trong trắng tinh khiết quá pha-lê gọt. Cô đang gọi nước suối đá ngọt trào dâng lên. Tiếng phách trúc díu dan như cô đúc lại được muôn điệu của muôn giống chim. Có những tiếng tre đanh thép, sắc bén đến cái mực cắt đứt được sợi tóc nào vô tình bay qua khoảng nơi phách đang bốc cao vươn mình dựng dậy như vách thành. Đôi tai Cậu Lãnh Út chỉ là hai cái phễu để Cô Tơ rót vào đấy cả một rừng chim và cả một suối thủy tinh (…)
Trong buồng thờ Chánh Thú, có tiếng cười sằng sặc ở sau cái bài vị. Bát hương bàn thờ sứ chẻ dọc làm hai mảnh, tiếng nẻ toác to gọn như mắt tre nổ trong lửa. Hai mảnh sứ nhào lăn xuống nền đất, kêu đánh xoảng. Riêng Cô Tơ nhận thấy tiếng đổ vỡ này và hiểu nó là điềm báo hiệu của một điều linh thiêng gì. Qua cái màn mỏng nước mắt, người hát trừng trừng vào người đàn. Bá Nhỡ vốn đã còm, giờ lại càng khô sút hẳn đi. Máu tuôn ra nhiều quá, đánh đống quanh chỗ Bá Nhỡ như một khối hồng hoa. Bắt tay đàn để xuống mạnh một cái đẩu gâ’y thứ nhất ấy là máu trong người Bá Nhỡ vợi đi từ đây. Và thân hình ngót dân đi và teo tóp mãi lại chẳng khác gì cái xác khô người tâng già khổ hạnh. Hình như tới một chừng mực siêu thanh nào đó, âm nhạc có cái vật tính là làm quắt lại da thịt và chuốt dài thân người ra.
Bá Nhỡ chỉ còn là một cái bóng. Bóng loãng dân và không động. Bóng cứ nhạt mờ thêm mãi qua cái hôn mê của nỗi thảm tình thương và Cô Tơ chỉ còn nhận thây có mỗi một cái chấm sáng trên thân người ôm đàn là còn linh động. Ấy là cái mặt ngọc chiếc nhăn ở ngón tay nắn dây. Tất cả sinh khí một kiếp người chỉ còn gởi có vào một cái mặt nhăn linh động theo âm đàn. Nhưng mà ngón tay câm đàn gây cũng đã uể oải rồi trên con phím. Rồi bẵng hẳn đi trong phòng không có một tiếng đàn nào nữa. Như một thứ keo, máu cũ khô quánh đã gắn chặt mười đâu ngón Bá Nhỡ vào mấy sợi tơ đỏ săm và mặt tang ngô đồng hoen ố. Mười ngón như một đã bị đóng đinh liền vào phím cây đàn. Máu tuôn đã hết chất nồng và chỉ còn tỏa ra một mùi tanh nhạt. Bá Nhỡ gục vào đàn, nách cắp lấy thành đàn mà nhoài ra giường. Gỗ bục đêm và thân người nhoài ra kia lạnh bằng nhau (…) Cây đàn vừa bị tay người lạnh thả dân xuống mặt bục, đang tự tan vụn ra từng miếng con. Phím long rồi, cân, thành, tang đều tung bật hết mộng chốt, và cùng một lúc nhả hết những đường sơn gắn. Đàn chỉ còn là một đống vụn gỗ linh tinh những bừa bộn bên một cuộc đời đánh đàn đang khô dân lớp máu cuối cùng.
Sao lại có thể có người tưởng tượng ra được bao nhiêu cảm giác cảm xúc ấy nhỉ? Nên nhớ tất cả là thuần tưởng tượng! Một cơn “mơ cảm” kỳ lạ hết sức. Nhưng nếu chỉ có mơ không thôi, ai biết. Đây mơ đến đâu mực đen giấy trắng lời xuống rành rành đến đấy. Mơ hóa thành lời. Và hẳn lời hiện ra lại khiến mơ tiếp tục… À, đây là cả một cuộc giao hoan với chữ nghĩa có đầy đủ giáo đầu và đạt khoái cảm tột độ, chứ còn gì nữa!
Dễ dàng hình dung viết xong chữ cuối cùng của “Chùa Đàn”, Nguyễn Tuân quẳng ngay bút, nằm vật thiêm thiếp trên chiếc võng đay nhà bà Chu! Nhà văn như là chính nhân vật Bá Nhỡ của mình, chỉ không đến nỗi hồn lìa, xác đợi lên cáng về Mê Thảo! Nguyễn Tuân cho Bá Nhỡ đàn hết cả máu ra, tức là Nguyễn Tuân viết hết cả “cảm” của mình ra. Máu hết thì người chết, còn cảm hết thì tâm hồn chỉ khô đi mất một lúc, sau đó lại bắt đầu ứa cảm…
Đoạn kết của truyện càng nhiều chi tiết dễ trầm trồ. Có nghĩa lý gì bất cứ cái chi tiết hay ho nào. Thành tựu đây là một người đã diễn được toàn thể cái cơn mơ cảm phi thường của mình ra thành chữ nghĩa cực kỳ gợi cảm.
“Chùa Đàn” là một trận lên đồng văn chương của “người đi tìm cái đẹp”. 
2013
————————-(*)
Tất cả những chỗ trích lời Nguyễn Tuân  đều trong Nguyễn Tuân – người đi tìm cái đẹp,  Nxb. Văn Học, 1997.

Theo Thu Tứ- Tuần báo văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh
 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

9 − five =