Điểm sách: “Lịch Sử Thượng Đế”

0
14
Thông tin về sách trong bài viết
Tên Sách: Lịch Sử Thượng Đế
Tác Giả: Karen Armstrong

Thượng Đế hình thành

Một trong những lý do mà ngày nay con người cảm thấy dường như Tôn giáo mờ nhạt hay không còn liên quan là bởi vì ta không còn cảm giác bị bao quanh bởi những cái vô hình. Rõ là, nền văn hoá khoa học dạy chúng ta tập trung vào TG vật lý & vật chất ngay trước mắt mình. Nhưng hậu quả là chúng ta, theo cách nào đó, đã sửa lại cảm nghĩ “thần thánh” hoặc “thiêng liêng” vốn đã thâm nhập vào cuộc sống con người và từng là nhân tố căn bản trong trải nghiệm về TG.

“Trải nghiệm” này đôi khi được cảm nhận như một quyền năng phi nhân cách. Lịch sử cho thấy, nó ngự trị trong vị tộc trưởng, cây cối, đất đá, động vật… Vì thế, một cách tự nhiên, con người muốn gắn kết thực tại này và làm cho nó trở nên hữu ích với họ. Đơn giản, họ cũng muốn kính ngưỡng nó thông qua việc nhân cách hoá những thế lực vô hình, biến chúng thành Thần linh, gắn chúng với Mặt trời, Gió, Biển… Họ biểu lộ cảm nhận về sự gắn kết với cái vô hình & TG xung quanh.

Khởi đầu

Khởi phát, việc thờ cúng Great Mother thể hiện nhận thức rằng khả năng sinh sản vốn biến đổi cuộc sống con người thực sự là thiêng liêng. Bia đá khắc người phụ nữ khoả thân mang thai được phát hiện khắp châu Âu, Trung đông, Ấn độ. Nhiều TK, Bà là vị thần mạnh nhất: Bà được gọi là Inana ở Sumer cổ đại, Ishtar ở Babylon, Anat ở Canaan, Isis ở Ai Cập và Aphrodite ở Hy Lạp…

TG thiêng liêng của các vị thần như được phỏng trong các truyện thần thoại, không chỉ là lý tưởng con người mong mỏi mà còn là mẫu hình nguyên thuỷ hay cổ mẫu; theo đó cuộc sống con người trần gian đã được phỏng theo. Mọi vật trên thế gian vì thế mà được tin là bản sao của cái gì đó trong TG thần thánh. Nhận thức này đã tạo nền tảng cho các câu chuyện thần thoại, nghi lễ và tổ chức xh ở hầu hết các xh cổ đại, ảnh hưởng đến ngày nay.

Rồi thì

Karen, theo một nghĩa quan trọng, Thượng Đế là sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạo giống như thơ ca hay âm nhạc mà tôi thấy rất gợi hứng. Đừng khám phá Ngài theo cách suy luận bình thường. Thượng Đế chắc chắn không tồn tại như một thực thể ngoài kia; nhưng Ngài vẫn là thực tại quan trọng nhất trên TG.

Con người đã trải nghiệm một chiều kích tinh thần siêu việt TG trần tục – một đặc điểm đáng chú ý của tâm trí con người. Chúng ta lựa chọn việc diễn giải nó, cái trải nghiệm nhân văn về “siêu việt” đã là một thực tế cuộc sống.

Cảm nghiệm phương Tây

Friedrich Schliermacher (1768-1834) [Xuất bản: On Religion, Speeches to its Cultured Despisers]: xúc cảm không đối nghịch với lý trí con người mà là một cú nhảy trong trí tưởng tượng, sẽ đưa ta vượt ra khỏi cái đặc thù đến sự lĩnh hội cái toàn thể. Cảm thức về Chúa, mà theo đó đạt được trỗi lên từ những tầng sâu trong mỗi cá nhân thay vì từ sự va chạm với một dữ kiện khách quan.

John Keats (1798-1831), nhà văn Anh viết về trí tưởng tượng như một quan năng thiêng liêng “Tôi không đoan chắc được điều gì ngoài tính thần thánh của những tình cảm nơi con tim & chân lý của trí tưởng tượng – cái mà trí tưởng tượng tóm lấy làm cái đẹp ắt phải là chân lý – bất luận nó có tồn tại trước đây hay không”.

Hermann Cohen (1842-1918): Chúa đơn giản là một ý niệm được tâm trí con người hình thành nên, một biểu trưng cho lý tưởng đạo đức. Moses, câu chuyện Kinh Thánh với “I am what I am” (Ta là đấng tự hữu) – đây là lời biểu đạt sơ nguyên của sự thật rằng cái mà ta gọi là “Thượng Đế” chỉ đơn giản là chính bản thân hữu thể (being). Một ý niệm thuần đạo đức – như “Thượng Đế” – không thể an ủi chúng ta; tôn giáo dạy chúng ta yêu thương những láng giềng nên có thể nói rằng Thượng Đế trong tôn giáo là tình yêu thương đầy xúc cảm đó.

Lòng sùng kính

Lịch sử giúp ta nhìn thấy “một sự bốc đồng” tôn giáo đằng sau việc thần thánh hoá Jesus một cách lạ thường bằng cách nhìn sơ qua một số trường hợp ở Ấn Độ cũng xảy ra trong khoảng thời gian này. Trong cả Phật giáo & Ấn Độ giáo đã dấy lên lòng sùng kính những hữu thể được tôn kính như chính Đức Phật hay các vị thần Hindu xuất hiện dưới hình thể con người. Kiểu sùng kính cá nhân này được gọi là Bhakti, thể hiện sự khát khao lâu đời của con người về một tín ngưỡng được nhân tính hoá.

Sức mạnh và nguồn khơi mở của những hình tượng đó mang lại cho chúng một ý nghĩa trung tâm trong đời sống tâm linh Phật giáo cho dù là sự sùng kính một hữu thể nằm ngoài cái Ngã thì rất khác với nguyên tắc nội tại mà Tất-đạt-đa thuyết giảng. Tất cả các tôn giáo đều thay đổi và phát triển, bằng không sẽ lỗi thời. TK I BCE, một vị Phật mới xuất hiện: Bồ Tát, đấng đã noi theo gương Đức Phật và cởi bỏ Niết Bàn, hy sinh bản thân để cứu độ chúng sinh; Người chấp nhận tái sinh để cứu chúng sinh trong đau khổ. Kinh Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa, biên soạn cuối TKI BCE, rằng “Các vị Bồ Tát không muốn đạt Niết Bàn cho riêng mình; ngược lại họ quan sát thế gian … họ bắt đầu cuộc hành trình hướng đến lợi ích cho thế gian..”

Karen, không khó để nhận ra rằng, lòng sùng kính Bhakti này với chư Phật & Bồ tát cũng tựa như lòng sùng kính của Kito hữu đối với Jesus. Nó cũng làm cho đức tin đến với nhiều người hơn, như Paul đã từng mơ ước mang đạo Do thái đến cho dân ngoại. Có sự dấy lên lòng sùng kính Bhakti trong Ấn Độ giáo diễn ra đồng thời, tập trung vào Shiva & Vishnu, hai trong những vị thần quan trọng nhất của Kinh Vệ đà. Thực ra người Hindu đã phát triển Bộ tam thần tối linh: Brahman, Shiva và Vishnu là 3 biểu tượng hoặc hình ảnh của 1 thực tại đơn nhất, không thể diễn tả được.

(…)

Cái Một & Chúa Ba Ngôi

Chúa và Toàn năng không phải là những thực tại bên ngoài, mà được tìm thấy từ bên trong [Chronicles 34:5-7]: Đừng tìm kiếm Thượng Đế và sự Sáng thế hay những thứ khác tương tự. Hãy tìm kiếm Ngài bằng cách lấy bản thân mình làm điểm khởi đầu. Hãy tìm hiểu ai đang ở trong bạn làm cho mọi sự trở nên của riêng mình và nói, lạy Chúa tôi, tâm trí của tôi, suy nghĩ của tôi, linh hồn của tôi và thân xác của tôi. Hãy tìm hiểu nguồn gốc của đau khổ, hoan hỉ, tình yêu, thù hận. Nếu bạn xem xét kỹ những vấn đề này, bạn sẽ tìm thấy Ngài trong chính bản thân mình.

Thực tại tối cao là một nhất thể nguyên sơ mà Plotinus gọi là cái Một. Bản thân cái Một là sự đơn giản nên chẳng có gì để nói về nó; nó không có những phẩm chất khác biệt với thực chất của nó làm cho sự mô tả bình thường trở nên có thể.

Plotinus giải thích: “sẽ có nhiều sự thật hơn trong tĩnh lặng”. Thậm chí ta không thể nói nó tồn tại, bởi vì với tư cách là hữu thể tự thân, nó không phải là “một sự vật nhưng khác biệt với vạn vật”. Plotinus, nó là “mọi thứ và không là gì; nó có thể không phải là vạn vật đang hiện hữu, đồng thời có thể là tất cả” (Keypoint xuyên suốt Lịch Sử Thượng Đế)

Plotinus coi cái Một là vượt quá mọi phạm trù con người, kể cả phạm trù nhân cách. Ông ví von nó như “điểm nằm giữa” hình tròn vốn chứa đựng điều có thể của tất cả các hình tròn tương lai xuất phát từ nó tương tự hiệu ứng sóng khi thả hòn đá xuống mặt nước. Ông coi khởi phát đầu tiên phóng ra từ cái Một là Thần Thiêng. Cùng cái Một, chúng hình thành một Ba Ngôi thần tính mà theo 1 cách nào đó gần với giải pháp cuối cùng của Kito giáo về Chúa Ba Ngôi:

• Tâm trí (nous), khởi phát đầu tiên, ứng với ý tưởng của Plato: nó làm cho tính đơn thuần của cái Một trở nên khả tri nhưng sự hiểu biết ở đây là bằng trực giác và ngay lập tức.
• Linh hồn (psyche), vốn khởi phát từ Tâm trí theo cách giống như Tâm trí khởi phát từ cái Một.

Nếu người Hy Lạp tiếp cận Thượng Đế bằng việc xem xét ba nhân vị biểu kiến, từ chối phân tích bản tính duy nhất không được biểu lộ của Ngài thì Augustine và các tín hữu sau ông đã bắt đầu nhất thể thánh thiêng. Cách tiếp cận của Augustine mang tính tâm lý & nhân vị cao. Ông được coi là nhà sáng lập Tinh thần phương Tây; ngoài thánh Paul, không có nhà thần học nào khác có tầm ảnh hưởng lớn hơn ông ở phương Tây.

Augustine (Confessions – Tự thú), Chúa được tìm thấy trong Tâm trí & Ký ức; Ngài chỉ có thể được khám phá trong thế giới thật của Tâm trí. Ông cho rằng, trong linh hồn có 3 thành phần: ký ức, hiểu biết và ý chí; nó tương ứng với tri thức, tự biết và yêu thương. Giống như Ba Ngôi Thiêng Thánh, những hoạt động tinh thần này về cơ bản là một, vì chúng không phải là ba tâm trí tách biệt, nhưng mỗi hoạt động lấp đầy toàn bộ tâm trí và ngấm vào hai hoạt động kia: “Tôi nhớ là tôi có ký ức, hiểu biết và ý chí; Tôi hiểu là tôi hiểu, quyết tâm và nhớ; Tôi quyết tâm phải quyết tâm, nhớ và hiểu” —> Điều này giống Ba Ngôi Thiêng Thánh, cả 3 thành phần vì thế cũng là “một sự sống, một tâm trí, một bản tính”.

Tương lai của Thượng Đế

Karen, ta cũng đã thấy, không phải mọi người theo tôn giáo tìm đến “Chúa” để cho họ mọi lý giải về vũ trụ. Chỉ có những người có thói quen đọc Kinh Thánh theo từng chữ nghĩa đen và thấu hiểu giáo lý như thể chúng là sự thật khách quan, mới cảm thấy bị khoa học đe doạ. “Thượng Đế” mang tính chủ quan hơn mà các triết gia / nhà khoa học đang tìm kiếm không thể được minh chứng như thể là một sự thật khách quan, giống nhau đối với mọi người.

Max Horkheimer (1895-1973), một nhà XH học Đức, nhìn nhận về Chúa như một lý tưởng quan trọng, rằng “Nếu không có cái tuyệt đối, thì không có lý do tại sao ta không nên thù hận hay tại sao chiến tranh tệ hơn hoà bình. Tôn giáo về bản chất là một cảm xúc bên trong rằng có một Thượng Đế”.

Karen, loài người không thể chịu đựng được sự trống rỗng và cô độc; họ sẽ lấp khoảng chân không bằng cách tạo ra tâm điểm ý nghĩa mới. Các ngẫu tượng của CN chính thống không đủ tốt để thay thế Thượng Đế; nếu ta sắp sửa tạo dựng một đức tin mới tinh khôi cho TK XXI, có lẽ ta nên trầm tư về lịch sử của Thượng Đế nhằm học hỏi và cảnh tỉnh.

Hẳn là

Thượng Đế được xem như sự hoàn thiện của nhân loại, sự phát triển trọn vẹn tiềm năng của một con người; “Thượng Đế” mà con người gặp gỡ là độc nhất của riêng người đó – một Thượng Đế có nhân tính; Ngài giúp tín hữu trân trọng những quyền thiêng liêng, không thể tước đoạt của cá nhân và vun trồng niềm tôn trọng nhân cách.

Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần cùng tồn tại trong một thực thể hoàn hảo, không thể phân biệt. Đức Jesus là Thượng-Đế-làm-người, vừa trọn vẹn nhân tính, vừa trọn vẹn thần tính. Ngài là Lời đầu tiên và Cuối cùng của Thượng Đế với loài người. Khắc ghi lời Ngài – chân lý hiển nhiên rằng “hãy làm cho người khác điều anh muốn họ làm cho anh.”

THƯỢNG ĐẾ LUÔN TỒN TẠI; CẦN LÒNG NHÂN CHỨ ĐÂU CẦN CỦA LỄ; CẦN LÒNG TRẮC ẨN HƠN LÀ LỄ NGHI TRỌNG VỌNG.

Bài của CTV Nguyễn thế Duyệt

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

7 − 6 =