Tọa đàm về bộ tiểu thuyết “TỪ DỤ THÁI HẬU”

0
12

Tọa đàm về bộ tiểu thuyết “TỪ DỤ THÁI HẬU”

Thông tin sách:

Tên tác phẩm: Từ Dụ thái hậu    Thể loại: tiểu thuyết lịch sử

Tác giả: Trần Thùy Mai

Số trang: Tập 1: 444 trang; Tập 2: 464 trang; Khổ: 15,5 x 23,5 cm

Giá bìa: 375.000 đồng

NXB Phụ nữ phát hành trên toàn quốc vào tháng 4 năm 2019.

Tác phẩm:

Từ Dụ thái hậu là một trường thiên tiểu thuyết gồm 69 chương, có thể xem là tiểu thuyết lịch sử dạng “cung đấu” hiếm hoi của văn học đương đại, viết về thời nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Tác phẩm là cuốn tiểu thuyết tâm huyết của nữ nhà văn nổi tiếng xứ Huế Trần Thùy Mai, với văn phong thuần Việt và cốt truyện đậm chất điện ảnh, sinh động cuốn hút từ đầu đến cuối.

Tác giả chọn hậu cung làm nền để kể câu chuyện dài về cuộc đời một trong những bà hoàng lừng danh trong sử Việt, đó là bà Phạm Thị Hằng, chánh thất của hoàng đế Thiệu Trị, sau trở thành hoàng thái hậu Từ Dụ nổi tiếng hiền đức. Thời gian của tác phẩm trải dài 30 năm, qua 3 triều vua Nguyễn: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị; từ lúc cô thiếu nữ 13 tuổi Phạm Thị Hằng theo cha từ vùng đất phương Nam trù phú về kinh đô, chịu bao thăng trầm dâu bể rồi trở thành người đứng đầu hậu cung nhà Nguyễn. Cô tiểu thư họ Phạm xinh đẹp, thông minh và nhân hậu đã chứng kiến rất nhiều phận đời sau bức tường thành cung cấm, những bi kịch chốn cung đình, và rồi bản thân nàng cũng trở thành một thân phận điển hình. Những mưu mô thủ đoạn tàn độc đầy rẫy ở hậu cung đôi lúc làm khuynh đảo cả triều chính, gây ra những cái chết tức tưởi, những án oan dậy trời tiếng nhơ khó rửa, đến mức hậu thế phải tốn nhiều bút mực tranh luận.

Giữa nơi cung cấm xa hoa đầy bí hiểm đó, mối tình của Phạm tiểu thư và hoàng trưởng tử Miên Tông (vua Thiệu Trị sau này), nổi lên trong trẻo, lãng mạn và chung thủy, dẫu gặp không ít trắc trở éo le. Bên cạnh đó còn có bóng dáng thầm lặng mà trung thành trước sau như nhất của Trương Đăng Quế, đệ nhất công thần nhà Nguyễn, người mang mối ẩn tình với nàng bao năm (mối tình này đã trở thành một “đại nghi án” gây tranh cãi của triều Nguyễn). Cuộc chiến cam go bảo vệ tình yêu, danh phận; bênh vực giúp đỡ người ngay và  lẽ phải ở nơi quyền quý thực sự gay cấn và đầy hiểm nguy, nhất là khi tranh tối tranh sáng thiện ác khôn lường.

Ngoài trục chính với các nhân vật trung tâm kể trên, tác phẩm còn là xoay quanh các mối quan hệ quân thần, huynh đệ, những âm mưu thủ đoạn trong hoàng thất khi quyền lực luôn luôn bị nhòm ngó tranh giành. Nhẹ nhàng, tinh tế, không lên gân, tác giả lồng ghép mọi ý tưởng, suy nghĩ, lý giải của mình về chính trường nhà Nguyễn, từ thời Gia Long khởi lập đến lúc vua Tự Đức lên ngôi, bằng cách kể chuyện mạch lạc và cuốn hút, đầy sức thuyết phục. Những đại án thời nhà Nguyễn – vẫn còn gây tranh cãi sôi nổi trong hậu thế – được tái hiện sinh động và hấp dẫn, gay cấn: vụ án quật mồ đại công thần Lê Văn Duyệt do loạn Lê Văn Khôi; đại nghi án con hoàng tử Cảnh thông dâm với mẹ ruột; loạn Hồng Nhậm do vua Thiệu Trị phế trưởng lập thứ; nghi vấn nhức nhối vua Tự Đức có phải là con của đại thần Trương Đăng Quế và thái hậu Từ Dụ?… Tác giả đưa ra những lý giải thuyết phục về các sự kiện lịch sử, thể hiện sự am hiểu sâu rộng cổ sử và tầm nhìn hợp tình hợp lý. Đồng thời, Trần Thùy Mai trổ hết tài khéo của một người viết nữ, tinh tế và miêu tả tâm lý nhân vật cực tài tình. Các nhân vật hấp dẫn và gây ấn tượng trong tiểu thuyết này có rất nhiều: Gia Long thâm trầm khôn khéo, Minh Mạng thông minh quyết đoán và nam tính, Thiệu Trị giàu tình cảm, cả nể, Tam phi Ngọc Bình “con vua mà lại hai lần vợ vua”, Nhị phi Trần Thị Đang cơ mưu xảo quyệt, Trương Đăng Quế điềm đạm nhu cương chu toàn, và Phạm Thị Hằng dịu dàng thông minh, luôn lấy lòng nhân đối đầu cường bạo…

Có thể nói, “Chỉ thông qua các chuyện trong hậu cung, chính trường nhà Nguyễn qua ba triều vua hiện lên một cách sinh động dưới ngòi bút sắc sảo của nữ nhà văn Trần Thùy Mai. Mặt khác, văn hóa phong tục được gói trong các lễ nghi giao tiếp, trong các sinh hoạt cung đình và dân dã được mô tả rất tinh tế, rất Huế. Từ Dụ thái hậu là một cuốn tiểu thuyết lịch sử hấp dẫn và trung thực lạ lùng.” (Hoàng Quốc Hải)

Nhà xuất bản Phụ nữ trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

Tác giả: Trần Thùy Mai

Quê ở Huế- Sinh ở Hội An

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

Tác phẩm chính:

  • Cỏ hát, tập truyện ngắn đầu tay in chung với Lý Lan, Nxb. Tác phẩm mới, 1983
  • Thị trấn hoa quỳ vàng, tập truyện ngắn, Nxb. Hội Nhà văn, 1994
  • Trò chơi cấm, tập truyện ngắn, Nxb. Trẻ, 1998
  • Người khổng lồ núi Bạc, truyện thiếu nhi, Nxb. Trẻ, 2002
  • Thập tự hoa, tập truyện ngắn, Nxb. Thuận Hóa, 2003
  • Thương nhớ Hoàng Lan, tập truyện ngắn, Nxb. Văn MớiCalifornia, USA, 2003
  • Mưa ở Trasbourg, tập truyện ngắn, Nxb. Phụ nữ, 2007
  • Lửa hoàng cung, tập truyện ngắn,  Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh,2008
  • Một mình ở Tokyo, tập truyện ngắn,  Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2008
  • Trăng nơi đáy giếng, tập truyện ngắn, Nxb. Thanh Niên, 2010

Giải thưởng:

Quỷ trong trăng – giải B, Hội Nhà văn Việt Nam 2002; Thập tự hoa – giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam 2003, Giải thưởng Văn học Cố đô 2004; Một mình ở Tokyo – giải thưởng của Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế 2008; Giải thưởng Hội hữu nghị San Francisco – Hochiminhcity 2011…

Một số trích đoạn hay:

  1. Gia Long và Tam phi Ngọc Bình (Chương 7 – Đêm trong điện Hoàng Nhân):

“Nhà vua nâng mặt Tam phi lên nhìn.

– Sao chẳng bao giờ trẫm thấy nàng cười vậy? Đến bây giờ vẫn còn oán trách trẫm sao?

Tam phi cúi đầu:

– Thần thiếp là phận sâu kiến, đâu dám oán bệ hạ!

Vua Gia Long gằn giọng:

– Nàng không oán ta là đúng. Cả triều đình Tây Sơn bị tận diệt, cả nữ tướng Bùi Thị Xuân một thời lừng lẫy cũng đã bị xéo nát dưới chân voi. Nàng có nhớ không?

Tam phi rùng mình:

– Thiếp làm sao quên được.

Vua Gia Long nhếch cười:

– Địa vị nàng trong triều Tây Sơn còn lớn hơn Bùi Thị Xuân. Nếu ta muốn thì nàng cũng có thể bị xéo nát dưới chân voi! Nhưng ta đã tha cho nàng, lại còn đưa nàng lên địa vị cao quý. Nàng có biết vì sao như vậy không?

Tam phi lặng lẽ giây lâu rồi bỗng bật ra:

– Thần thiếp biết. Vì… Vì bị voi giày chỉ đau đớn có một lần. Còn sống để chịu giày xéo mỗi ngày mới thật là đau đớn vạn lần!

Vua Gia Long nhổm dậy:

– Á à… Nàng dám nói vậy sao?

Không nén được tức giận, ngài xô Tam phi ngã sóng soài dưới chân giường.

– Ngọc Bình, nàng thật ngu dại. Ta đã giải thoát cho dân chúng khỏi ách của Tây Sơn, giải thoát cả cho nàng! Thế mà nàng dám nói là đang chịu giày xéo! Ta cho đuổi cổ cả hai mẹ con bây giờ!

Tam phi sợ hãi, lết tới níu lấy áo nhà vua:

– Hoàng thượng, xin tha tội thần thiếp lỡ lời. Có lúc thiếp không biết mình đang nói gì nữa.

Vua Gia Long dịu lại:

– Ngọc Bình, nàng bị giặc Tây Sơn cưỡng ép kết hôn. Nay trẫm đã giải thoát cho nàng, nàng hãy xóa sạch ra khỏi tâm trí cái khoảng thời gian theo giặc. Nghe chưa?

Tam phi ôm mặt khóc.

Vua Gia Long quát:

– Nín!

Tam phi sợ hãi im bặt, lấy tay áo lau nước mắt.

Thấy bộ dạng Ngọc Bình thảm hại như vậy, không hiểu sao trong lòng nhà vua dâng lên một cảm giác hứng thú vô bờ bến. Vua ôm nàng vào lòng, âu yếm vuốt ve:

– Trẫm thương nàng lắm. Thấy nàng khóc lóc trẫm cứ tưởng như cái ngày chiến thắng ấy mới xảy ra hôm qua đây thôi…

Tam phi đang run rẩy chợt mở to mắt.

– Vậy là thấy thần thiếp đau khổ thì bệ hạ mới thỏa lòng, phải không?

Vua Gia Long không đáp, kéo Tam phi nằm xuống.

Áo khoác mỏng của Tam phi rơi xuống bên giường.

Từ dưới nhà ngang, cách mấy lớp cửa son, Hạnh Thảo đang dỗ Ngọc Ngôn bỗng nghe Tam phi rú lên một tiếng.

Đứng trực ngay dưới thềm, Trung Tín nghe tiếng nhà vua ôn tồn vọng ra từ trong màn gấm:

– Trẫm có làm nàng đau đâu?

Trên nệm phỉ thúy, Tam phi oằn mình thở hổn hển, mắt mở to đầy vẻ hãi hùng. Không, nàng kinh sợ không phải vì đau: nhà vua là một người đàn ông trầm tĩnh, nhẹ nhàng và lịch lãm.

Nhưng nàng thét lên vì trong lúc ấy nàng vừa thấy vua Tây Sơn Quang Toản hiện ra, người đầm đìa máu.”

  1. Gia Long chọn người kế vị (Chương 14 – Di mệnh):

“- Ta biết mình sẽ ra đi trong lúc triều đình đang chia thành hai nhóm, kẻ phò Đảm, người phò Đán. Đảm hay Đán đều là máu thịt của ta, truyền ngôi cho Đảm hay Đán đều có chỗ được và chưa được. Đán làm cho người ta yêu mà giúp, Đảm làm cho người ta nể sợ mà phục tùng. Đán mềm mại quá, Đảm thì cứng rắn quá. Đán cởi mở quá, Đảm kiên quyết quá.

Vua dừng lại nghỉ một lúc rồi tiếp:

– Thuở ta còn khó khăn, Tây Sơn thì mạnh, ta thì yếu, đành phải dựa vào Tây dương để giành lại đất nước. Văn minh Tây dương nhiều điều không hợp với phong hóa nước ta. Nhưng họ mạnh hơn ta nhiều lắm, nếu ta không khéo sẽ không yên với họ được. Đán bây giờ cũng như Cảnh trước kia, thường quá thiên về Tây; Đảm thì ngược lại, quá khắt khe bài xích họ; hai cái đều có chỗ rất dở. Mình dễ quá thì họ tham mà lấn; mình khó quá thì họ lấy sức mà đè, đằng nào cũng thiệt cho mình. Bao năm nay ta vẫn giữ cách xử sự mềm dẻo, linh động với họ, khiến họ làm lợi cho ta mà không xâm phạm đến ta được. Sau này các khanh hiểu ý đó của ta mà giúp tân vương giữ gìn đất nước. Hãy thận trọng, chuyện này không phải dễ đâu.

Lê Văn Duyệt cúi đầu:

– Hoàng thượng thật sáng suốt. Những lời hoàng thượng vừa phán, cũng chính là tâm huyết của thần. Nhưng, tâu hoàng thượng, thế ai sẽ là tân vương?

Vua Gia Long khẽ nhếch cười, cái cười thoáng qua ấy như muốn giễu cợt Lê Văn Duyệt: “Ta biết mà, ông sốt ruột lắm đây!” Vẻ mặt ngài trở lại nghiêm nghị:

– Từ từ, từ từ rồi ta sẽ nói:

Nay tình thế bắt phải chọn, thì ta chọn Đảm, vì Đảm lớn hơn, vì vua càng trưởng thành thì đất nước càng vững mạnh. Đảm thông minh, quyết đoán, cương trực, sau này có thể là vị vua tốt. Hai khanh là đại thần cố mệnh, hãy cố hết lòng phò vua mới để khỏi phụ lòng ủy thác của ta.

Lê Văn Duyệt và Phạm Đăng Hưng quỳ xuống, vẻ mặt vẫn còn hoang mang.

Vua run run chìa hai tay, nắm chặt lấy tay hai người.

Cử chỉ ấy của hoàng đế, trong giờ phút trọng đại này, làm Lê Văn Duyệt và Phạm Đăng Hưng đều xúc động. Cả hai đổi nét mặt, rập đầu:

– Chúng thần xin tuân theo thánh ý!”

 

  1. Trương Đăng Quế – Phạm Thị Hằng – Miên Tông (Chương 16 – Đàn tràng ở chùa Thiên Mụ):

“Trên bờ, Đăng Quế đi lẫn trong đám thiện nam tín nữ, dáo dác nhìn quanh, tìm kiếm. Đông quá, chàng nhìn quanh, tìm mãi, tìm mãi không thấy…

Lúc ấy Hằng đang ở ngoài xa, trên một con thuyền bồng bềnh trước Phu Văn Lâu. Từ trên mui thuyền cúi mình xuống, Hằng thả từng chiếc đèn hoa, khuôn mặt thiếu nữ ửng hồng trong ánh sáng lung linh.

Một thuyền khác chèo phía sau, trên thuyền là hoàng tử Tông và Giám Lê, cả hai đều mặc đồ thường dân.

Hoàng tử Tông bảo Giám Lê:

– Mau lên, chèo mau thêm một chút.

Giám Lê cười hinh hích:

– Dạ, cho kịp thuyền cái cô xinh xinh kia phải không?

Tông cười, chụp lấy mái chèo, tự tay chèo thuyền lên ngang thuyền của Hằng.

Thấy có thuyền áp sát thuyền mình, Hằng ngửng lên. Cô đưa cho Tông và Giám Lê mỗi người một chiếc đèn giấy.

Tông làm quen:

– Cô ơi cô, người ta thả đèn thế này để làm gì vậy cô?

Hằng vẫn chăm chú thả từng chiếc đèn xuống mặt nước:

– Không biết, thích thì thả chơi thôi. Nhưng có nghe sư ông nói, những linh hồn ngụp lặn trong dòng sông vô minh, nên mỗi chiếc đèn thả xuống là để soi cho một linh hồn hướng về cõi sáng đó.

Tông bỗng nhiên chạnh lòng:

– Vậy hả, vậy tôi thả chiếc đèn này cho mẹ tôi mới được.

Hằng ái ngại:

– Mẹ anh mất rồi à?

Tông gật đầu, lặng lẽ. Giám Lê hỏi:

– Cô tên gì, nhà ở đâu, cho tụi tôi làm quen được không?

Hằng nhớ lời Hạnh Thảo dặn, khi ra ngoài đừng để lộ thân phận của mình.

– Tôi là thị nữ nhà Phạm thượng thư, quan lớn tôi sai lên đây giúp đàn chay cho công chúa. Còn các anh là ai, nhà ở đâu?

Hoàng tử Tông huých tay Giám Lê. Giám Lê nói dối ngon lành:

– Hai đứa tôi là con nhà buôn bán ở ngoài cửa Đông Hoa.

Hằng hồn nhiên:

– Nhà các anh buôn gì?

Hoàng tử Tông tủm tỉm cười:

– Cha tôi mới được thừa kế một cửa hàng bán ghế, nhờ trời đang đắt khách lắm.

Hằng thấy cung cách của Tông, ngờ ngợ ngước mắt nhìn. Giám Lê nhanh nhẩu chen vào:

– Hôm nay ngày tốt anh em tôi đi chùa cầu phúc cầu duyên, mong cho sớm lấy được vợ tốt.

Hằng nghe giọng đùa cợt thì mỉm cười, quay lưng đi. Thuyền đổi hướng ngược dòng lên Thiên Mụ. Tông nhìn theo, thoáng chút ngẩn ngơ. “Con nhà ai mà dễ thương quá ta?”

 Trên bờ, trong đám đông, Đăng Quế vẫn đi tìm. Quế đi cho đến khi đêm hội tan, chỉ còn một dải sông Hương êm như nhung dưới trăng rằm, và những hoa đèn đủ màu càng lúc càng bập bềnh trôi xa về phía biển.”

 

  1. Thái hậu Trần Thị Đang và hoàng đế Minh Mạng ra lệ Tứ bất lập (Chương 17 – Triều đình không tể tướng):

 “Vua Minh Mạng giật mình, thoạt đầu ngạc nhiên, rồi một nụ cười thích thú hiện ra trên gương mặt:

– Mẹ! Con thực sự thán phục mẹ. Con chưa nghĩ được điều này. Mẹ đúng là người sinh ra vua!

Thái hậu cũng tươi nét mặt:

– Ta chưa nói hết. Nếu nay hoàng thượng chỉ ban hành một cái lệ mới là không lập tể tướng, tất sẽ lộ rõ cái ý nghi ngờ Lê Văn Duyệt, làm cho y và phe cánh y bất mãn đề phòng. Để cho kín kẽ, hoàng thượng hãy đặt ra cái lệ Tứ bất lập, sẽ không ai nói gì được.

Vua Minh Mạng tỏ vẻ dè dặt:

– Tứ bất lập là sao ạ?

Thái hậu tươi cười:

– Ta vừa nghĩ ra cái tên ấy, tạm gọi như thế cho dễ nhớ. Tứ bất lập là không lập bốn tước vị lớn, trong cung cũng như ngoài triều. Trong triều không lập tể tướng, không tuyển trạng nguyên; trong cung không lập toàng hậu, không phong thái tử. Ta làm có trên có dưới, có trong có ngoài như thế thì không ai ca thán gì được.

Vua Minh Mạng cau mày.

– Không lập hoàng hậu? Không phong thái tử?

Thái hậu vẫn điềm nhiên:

– Tại sao không? Trước đây ta có là hoàng hậu đâu? Vậy mà mọi việc cuối cùng vẫn tốt đẹp đó thôi!

Vua Minh Mạng lặng thinh, không nói. Lúc vua cáo từ về rồi, thái hậu quay lui, khẽ vỗ tay làm hiệu. Tổng quản thái giám Trần từ sau màn bước ra.

– Ngươi thấy chưa? Ta không nói sớm thì có người sẽ nói trước ta đó.

Thái giám Trần đắc ý:

– Thái hậu quả là tài trí hơn người. Xưa nay người ta vẫn nói “Tiên hạ thủ vi cường”, ai ra tay trước, người ấy mạnh hơn. Thần chỉ e…

– Nhà ngươi e cái gì?

– Thần chỉ e thói thường, đàn ông lúc nào cũng nghe lời vợ hơn nghe mẹ. Hoàng thượng lặng im không nói gì, chưa biết ngài sẽ tính sao đây?”

  1. Hoàng trưởng tử Miên Tông xin phụ hoàng Minh Mạng được lấy Phạm Thị Hằng (Chương 29 – Ân sủng của hoàng đế):

“Cố kiên nhẫn chờ cho vua cha dùng gần xong bữa, Miên Tông lấy hết can đảm nói một hơi:

– Tâu phụ hoàng, Ngô Hiền tần nói là sắp kén con gái nhà quan để làm cung tần cho con. Con thấy con gái Tổng tài Phạm Đăng Hưng nết na xinh đẹp, con rất muốn có người ấy, xin phụ hoàng chuẩn y cho phép!

Vua Minh Mạng hơi bất ngờ, nhíu mày nhìn Miên Tông, một lúc sau mới hỏi:

– Nội trong kinh thành biết bao nhiêu tiểu thư khuê các, sao ngươi không chọn? Lẽ nào trên đời chỉ có một người con gái sao?

Miên Tông vẫn chăm chăm:

– Tâu phụ hoàng, lòng con đã quyết, suốt đời chỉ chọn một mình Phạm tiểu thư thôi ạ!”

  1. Phạm Thị Hằng nhờ Trương Đăng Quế giúp đỡ Miên Tông (Chương 30 – Cuộc tranh tài):

“Khi ấy trời chiều, lớp học vừa xong. Trương Đăng Quế một mình bước trên lối đi. Trên vẻ mặt anh phảng phất một nỗi buồn âm thầm.

– Anh Quế!

Đăng Quế giật mình đứng lại. “Hằng đấy à?”

Hằng lại gần:

– Em đây. Em có chút việc này muốn nhờ anh!

– Nghe nói Hằng sắp làm dâu hoàng thất rồi, còn gì phải nhờ anh nữa.

Hằng nhăn mặt:

– Anh cũng trêu em như mọi người sao. Ai gặp em cũng chúc mừng, mà chẳng ai biết là  em khổ tâm lắm !

Đăng Quế giọng nửa đùa cợt, nửa mát mẻ:

– Vào cung hầu hoàng tử, danh giá vẻ vang như thế, còn khổ tâm cái gì.

Hằng bực mình:

– Anh Quế, anh tệ lắm. Trước đây anh đã nói thương em như là em gái của anh, em cũng coi anh như người anh cả. Vậy mà nay anh không hỏi han gì đến tâm sự của đứa em gái này, chỉ nói những lời chia vui hời hợt cũng như người lạ. Anh làm em tủi lắm!

Đăng Quế vội vàng dịu giọng.

– Em có tâm sự gì, hãy nói cho anh nghe đi!

Hằng thở dài thậm thượt:

– Anh Quế ơi, nay hoàng thượng truyền thi bắn cung…

Cô kể lể hết tất cả sự tình. Đăng Quế nghĩ thầm trong bụng: Miên Tông và Miên Hoằng đều là học trò của ta, sức học của cả hai, nếu đem văn tài mà thi thì Miên Tông hơn chắc. Còn đem võ nghệ thì Hoằng nhất định là hơn. Chọn thi bắn cung, chắc chắn là do Hiền tần xui hoàng thượng, để giành phần thắng cho con mình rồi, nhưng cũng do tính cách hoàng thượng mạnh mẽ, chuộng võ. Bây giờ ý trên đã quyết, xoay chuyển rất khó. Mà đằng nào, ai thắng ai thua thì Hằng cũng sẽ phải vào trong hậu cung, mình không gặp Hằng nữa rồi. Dẫu mình có vào cung dạy học, cũng vẫn mãi mãi kẻ bên ngoài, người bên trong Tử Cấm Thành, suốt đời cách biệt.

Nghĩ đến đó Đăng Quế cảm thấy đau lòng. Hằng nói mấy lần, anh mới sực nghe:

–  Hằng sợ lắm anh Quế à! Anh Quế cố gắng giúp Hằng đi?

Đăng Quế bồi hồi:

– Em muốn anh giúp như thế nào đây?

– Anh bắn cung còn giỏi gấp mấy Miên Hoằng, bây giờ anh dạy liền cho Miên Tông, họa chăng Miên Tông giành được phần thắng!

Đăng Quế nhìn chăm vào mặt Hằng:

– Vậy nghĩa là… em muốn Miên Tông thắng cuộc? Nghĩa là trong lòng em đã chọn Miên Tông?

Hằng lúng ta lúng túng:

– Thì em thấy… Miên Tông hiền lành hơn, sâu sắc hơn, lại có hoàn cảnh rất đáng thương…

Đăng Quế như bị một đòn ngầm vào tim:

– Thôi, em không cần nói nữa, anh đã hiểu rồi!”

  1. Miên Tông thắng bắn cung để được lấy Phạm Thị Hằng (Chương 31 – Lai lịch của Hạnh Thảo):

“Cái tin Miên Tông chiến thắng loan đi trong hoàng cung. Từ đó cung nữ, thái giám gán cho Miên Tông cái danh hiệu “Thiên hạ đệ nhất cung thủ”, khiến mỗi lần nghe cậu ngượng chết đi được. Cậu không cần làm đệ nhất thiên hạ, chỉ cần giành được Hằng là đủ rồi.

Miên Tông mừng, Hằng mừng, cả hai đều không nói ra lời, còn người công khai biểu lộ niềm vui chiến thắng lại chính là thái hậu.

Trong cung Từ Thọ, thái hậu ngồi duỗi chân cho cung nữ Hạnh Nhi xoa bóp, miệng cười hể hả:

– Ai mà ngờ cóc mọc đuôi, Miên Tông đi thi bắn mà lại được điểm cao! Hơn cả Miên Hoằng! Hoàng thượng chắc phải phục cái công nuôi dạy của ta!

Hạnh Nhi liến thoắng mách:

– Dạ, nghe nói Ngô Hiền tần buồn đến nỗi bỏ cả cơm nước mấy ngày nay!

Thái hậu sung sướng:

– Đáng kiếp! Lâu nay cậy thế gần gũi hoàng thượng, cứ ỏn ẻn xin cho thằng con hết đặc ân này đến đặc ân khác! Hoàng thượng có cả bầy con trai con gái chứ có phải một mình thằng Miên Hoằng đâu!

Hạnh Nhi hạ giọng:

– Con nghe nói việc bắn cung này, hoàng thượng đã ngầm ước với hai hoàng tử, ai thắng thì được lấy con gái Phạm Đăng Hưng. Thái hậu chịu nhận con gái Đăng Hưng làm cháu dâu sao?

Thái hậu chép miệng:

– Sau vụ Trương Công Kế bị hoàng thượng cách chức lưu đày, thanh thế Phạm Đăng Hưng đang lên mạnh lắm, ta cũng không tiện thọc gậy bánh xe.

Hạnh Nhi an ủi:

–  Dù sao cũng chẳng có chi mà lo, con gái Đăng Hưng có vào cung cũng chỉ mới là cung tần, đã phải chánh thất của hoàng trưởng tử đâu.

Thái hậu gật đầu:

– Ừ, nhiều khi lại càng hay, con gái Đăng Hưng vào cung tức là đã nằm trong tay ta. Lấy con mà điều khiển cha, chính là thượng sách!”

 

  1. Trương Đăng Quế thổ lộ tình yêu với Phạm Thị Hằng (Chương 31):

“- Hằng, đã từ lâu rồi anh luôn nghĩ đến em, khi anh thi đậu Hương tiến, trong ngày vinh quy bái tổ, anh đã nghĩ đến việc xin cha mẹ cho đem trầu cau đến hỏi em làm vợ.

Hằng ngẩn người, không biết nói sao, chỉ biết chăm chăm nhìn Đăng Quế.

– Nhưng chưa kịp nói thì có tang phu nhân, anh nghĩ em vẫn còn nhỏ tuổi, nên định chờ hết tang sẽ nói. Rồi cha em gặp nạn, việc vui mừng nói ra thật chưa đúng lúc. Đến khi cha em được giải oan, cả nhà đoàn viên, anh nghĩ chính là lúc gặp cha xin cho được như nguyện… Thì không ngờ duyên phận em đã khác, hạt mưa bé bỏng đã sa xuống đền đài rồi.

Hằng xúc động, bưng mặt:

– Trời ơi, anh Quế…

Đăng Quế ngậm ngùi:

– Lẽ ra anh phải giấu kín điều này, nói ra cũng chẳng làm gì nữa. Nhưng… Anh cũng muốn em biết những gì trong lòng anh…

Hằng cúi đầu, nước mắt chảy ướt má. Đăng Quế thấy vậy, vội gượng cười:

– Thôi, em đừng khóc. Lúc nào anh cũng thích em cười vui thôi mà. Thôi, anh không nén được nên nói ra cho nhẹ trong lòng, bây giờ em hãy yên tâm, từ ngày mai gặp nhau, cứ xem như anh chưa hề nói gì cả!

Hằng gật đầu, lau nước mắt, lúng túng chưa biết nói sao.

Biết Hằng đang lâm vào thế khó xử, Đăng Quế đứng dậy.

– Anh đi đây. Hãy nhớ rằng dù gì xảy ra đi nữa, trong suốt cả đời này, anh mãi mãi là người bạn trung thành nhất của em!

Hằng không nói gì, chỉ nhìn theo, cúi đầu thật thấp như muốn nói: “Muôn vàn tạ lỗi.”

  1. Vụ án Mỹ Đường (con hoàng tử Cảnh) thông dâm với mẹ ruột (Chương 33 – Chuyện ở Anh Duệ vương phủ):

“Lễ đại triều tháng ấy, vụ án ở phủ Anh Duệ được tuyên ngay trước sân chầu. Trước điện Thái Hòa, hai anh em Mỹ Đường, Mỹ Thùy bị điệu ra trước văn võ bá quan, quỳ chờ nghe thánh chỉ.

Thái giám tuyên đọc:

“Tôn thất Mỹ Đường, lòng dạ cầm thú, phạm tội thất đức từ xưa đến nay chưa từng thấy. Trẫm nghĩ xấu hổ cho giống dòng hoàng tộc, nên đã hạ lệnh xử kín Tống thị, để đỡ tai tiếng ô nhục. Nhưng nay việc dữ đồn xa, trong triều ngoài chợ ai ai cũng đều biết, không ai không bàn tán  sỉ vả. Xét không thể bao che được nữa nên trẫm phải đưa ra định tội để làm yên công luận trong ngoài…”

Lê Văn Duyệt đứng gần ngai vua, khuôn mặt im lìm như tượng đá.

“… Nay xét Mỹ Đường đáng tội voi giày ngựa xé, nhưng dù sao theo điều khoản nghị thân cũng có lệ giảm tội cho người trong hoàng thất. Lại nghĩ đến công lao của Anh Duệ hoàng thái tử Cảnh ngày trước, nên cũng thương tình dung cho tính mạng, khỏi tội lao tù. Song nếu tha hẳn thì không khỏi công luận phẫn nộ, nay trẫm lệnh cho cách hết phẩm tước, nạp lại quả ấn và dây thao. Tôn thất Mỹ Thùy ở cùng một nhà mà không biết can ngăn mẹ và anh, để sinh ra việc dâm loàn xấu hổ, cũng phải chịu hình phạt như vậy…”

Đăng Hưng đứng trong hàng triều quan tam phẩm. Không giấu được vẻ thương xót, ông đưa ống tay áo lên che mặt.

“… Trẫm đã tính toán đủ đường, khoan hồng cất nhắc nhiều lắm. Từ nay hai anh em hãy yên phận thứ dân, phải vui vì được ơn khoan hồng tha mạng, cố gắng hối cải đừng tái phạm lỗi lầm. Truyền Tôn Nhân phủ gạch tên Mỹ Đường, Mỹ Thùy trong sổ tôn thất, con cháu từ nay về sau cũng bị xóa tên. Khâm thử.”

Mỹ Đường, Mỹ Thùy quỳ mọp giữa sân triều, ngẩng đầu lên nhìn, ánh mắt mờ đục ngây dại như không còn chút tinh thần nào nữa.

Lính áp giải hô:

– Tạ ơn hoàng thượng đi!

Hai anh em nhìn quanh, ngật ngưỡng như chẳng còn hiểu gì.

Một võ quan đứng trên thềm bệ vội quát lính lôi Mỹ Đường, Mỹ Thùy ra. Theo lối cửa hậu phía sau Đại nội, họ bị tống xuất ra khỏi hoàng cung.

Hai ông hoàng, nay đã thành hai kẻ dân đen tay trắng, thất thểu dắt dìu nhau về lại nhà xưa.

Mỹ Đường, Mỹ Thùy bước vào Anh Duệ phủ. Vương phủ ngày trước tráng lệ như vậy, bây giờ đã hoang tàn. Những căn phòng trống không, đồ đạc đã bị cướp sạch.

Mỹ Thùy co ro ngồi xuống một góc thềm, cạnh những ngọn cỏ hoang lún phún mọc xuyên qua kẽ gạch.

– Anh, anh và mẹ có làm việc loạn luân đó không?

Mỹ Đường sững sờ, nghẹn ngào:

– Trời ơi, chính em mà cũng nghi ngờ anh sao?

Mỹ Thùy gục mặt xuống, khóc.                                  

– Em có làm gì đâu mà bây giờ mất hết tất cả rồi!”

  1. “Đại nghi án” triều Nguyễn: vua Tự Đức là con của thái hậu Từ Dụ và Trương Đăng Quế?(Cương 65 – Tin đồn độc địa)

“Mấy hôm sau, trong hoàng thành bỗng đâu râm ran một tin đồn rất lạ.

Trong sân một trại lính, đội quân Dực Chấn đang trong giờ nghỉ. Họ ngồi quanh bếp lửa, cùng nướng khoai ăn. Hai chú lính khẽ giọng, cười khúc khích:

– Té ra có chuyện thâm cung bí sử vậy sao? Ghê thật, thế thì còn trời đất nào nữa?

– Ừ, hóa ra cung cấm thâm nghiêm như thế mà cũng không khỏi chuyện lộn sòng, huống chi là ngoài dân gian bác nhỉ.

Một chú lính khác vừa ngốn ngấu miếng khoai, vừa ghé đầu lại gần:

– Cái gì mà cứ nghe thoang thoáng lúc xa lúc gần, bực mình ghê… Nói rõ ràng cho tớ biết với đi.

– Đồ khỉ, đi chỗ khác chơi đi! Cái gì cũng chõ tai vào!

Cả đám lính nhao nhao:

– Không nói thì thôi, đã nói thì nói cho hẳn hoi. Cứ úp úp mở mở, tức cả mình!

Chú lính kia vừa nuốt xong miếng khoai, lên giọng:

– Này, đừng có tưởng tớ không biết, trưa nay tớ cũng nghe xì xầm trong bếp ăn rồi. Vậy là hoàng thượng hiện nay không phải con đẻ của tiên đế à? Không phải con tiên đế thì là con ai?

– Ai nữa? Ai trồng khoai đất này?

– Lại ra vẻ bí mật, thậm thò thậm thụt, điên cái đầu! Thì cứ nói thẳng toẹt ra một cái, đây toàn anh em gan ruột sống chết có nhau chứ ai đâu mà ngại.

– Nói nhỏ thôi! Thì còn ai ngoài cái ông ấy nữa! Cái ông chỉ huy tối cao của quân đội chúng mình đó! Cỡ đó mới dám lẹo tẹo tận trong thâm cung chứ!

Lập tức, ai nấy đều hạ giọng thì thầm:

– Vậy là bà Quý phi với ông Trương Đăng Quế tư tình với nhau đẻ ra hoàng thượng, vậy mà cả hoàng gia với triều đình có mắt như mờ, chẳng ai biết gì cả?

– Chắc là biết chứ, nhưng không làm gì được thôi. Ông quận công nắm binh quyền trong tay, ai dám hó hé.

– Này các chú, có rảnh mồm, rảnh việc thì đi kiếm gái mà tán, đừng có hóng hớt những chuyện tày trời. Muốn chết cả đám hay sao?

Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa. Nháy mắt, câu chuyện “Hoàng đế con ai?” đã từ tai này sang tai kia, đồn đại râm ran trong kinh thành.”

  1. Ngôi cao cô độc (Chương 68 – Sức tàn phá của một bài thơ):

“Quờ quạng, mụ mẫm, thái hậu kêu:

– Dì Thảo! Ta đang ở đâu đây? Những người thân của ta đâu rồi? Miên Tông, Uyên Ý, Tĩnh Hảo đều đã bỏ ta đi. Bây giờ, Đăng Quế cũng từ bỏ ta rồi!

Hạnh Thảo dỗ dành:

– Đức bà hãy gượng tỉnh táo lại, lâu nay Đức bà trải qua nhiều biến cố nên tinh thần không ổn. Việc vừa qua, Đức bà đã quá khắt khe với Tuy Thạnh quận công, nên quận công không nén được buồn giận đó!

Thái hậu run run vịn tay Hạnh Thảo:

– Dì Thảo, dì hãy gọi con là Hằng đi! Hãy gọi tên Hằng, Miên Tông, Đăng Quế, như ngày xưa ấy! 

– Đức bà nay ở địa vị tôn quý, sao có thể xưng hô như lúc trước được?

– Dì Thảo ơi, càng tôn quý thì càng cô độc, như cái cây mọc trên núi cao, ngọn càng vươn lên thì càng bị gió dập vùi. Với dì, con chỉ là con, một người đàn bà đang cần tình thương yêu hơn bao giờ hết!

 Hạnh Thảo ôm lấy thái hậu.

– Hằng, dì đây, lúc nào dì cũng ở bên con. Từ lúc Miên Tông ra đi đến nay cũng hơn năm năm rồi, con sống trong cô quạnh, sao khỏi ảnh hưởng đến tính tình. Con đã độ lượng với bao nhiêu người khác, vậy hãy độ lượng với chính mình. Chỉ cần con đừng quá khe khắt, thì sẽ thấy nguồn an ủi ở ngay bên cạnh, chẳng phải tìm kiếm đâu xa con ạ!

– Nguồn an ủi nào, con chưa hiểu? Giờ đây ngoài hoàng thượng, con chỉ còn có dì thôi!

Hạnh Thảo thủ thỉ:

– Đăng Quế luôn dành cho con cả tấm lòng. Hôm nay trong lúc xúc động, Quế đã nói hết ra lời, lời lẽ bên ngoài tuy đắng chát nhưng bên trong là tất cả nỗi lòng kềm nén bấy lâu. Người đàn ông đó có thể là chỗ dựa cho con, trong những ngày tháng cô đơn này. Nay con đã hoàn tất bao nhiêu nghĩa vụ ở đời, tự cho mình một chút hạnh phúc có gì sai? Bao nhiêu đời thái hậu bên Tàu, bên ta, có ai sống khổ hạnh, hành xác như con đâu?

Thái hậu chững lại, khẽ nhíu mày:

– Thật sao? Dì nghĩ con có quyền dành tình thương cho ai đó khác ngoài Miên Tông sao?

– Con à, Miên Tông nay đã ở trên Trời rồi. Dì biết Miên Tông nhân hậu lắm, lúc nào cũng nghĩ điều tốt cho con, lúc nào cũng muốn con hạnh phúc.

– Còn tam tòng tứ đức thì sao? Hàng năm con là người ban tặng bảng vàng Tiết hạnh khả phong cho những bà góa thủ tiết thờ chồng. Không lẽ con lại không bằng họ?

Hạnh Thảo cười:

– Sự chung thủy tự nguyện rất đáng trân trọng. Nhưng không nên biến sự chung thủy thành một tín điều ràng buộc. Người đàn bà không phải là vật tế thần để chứng tỏ quyền lực của đàn ông! Như dì đây, dì góa bụa khi chưa đến ba mươi tuổi, lúc đó em Thuật còn nhỏ. Dì ở vậy nuôi em con, vì không muốn em con phải khổ. Dì cũng có những lúc quạnh quẽ buồn tủi lắm, có lúc nửa đêm ngồi dậy nguyện cầu cho mình mau già, có lúc tự hành xác với công việc nặng nhọc cho quên đi cám dỗ… Bây giờ thì dì già thật rồi, và may mắn bảo toàn được cái danh tiết phụ. Chẳng phải dì muốn bảng vàng nêu tên  đâu, chỉ  là vì cả đời dì chưa gặp ai toàn vẹn như cha con cả!”

 

  1. Ly biệt (Chương 69 – Lần gặp cuối):

“Đăng Quế càng nói càng siết chặt lấy bàn tay thái hậu. Thái hậu như chợt tỉnh, nhắm chặt mắt, lùi ra xa. Đăng Quế cố níu lại:

– Hằng… Suốt đời ta, nàng là một giấc mơ… Ta để dành giấc mơ ấy trong tim ta để tôn thờ; nhưng rất nhiều khi, ta ao ước được chạm tay vào giấc mơ, dù chỉ một lần, một lần thôi…

Thái hậu rùng mình, rồi quay đi:

– Tuy Thạnh quận công, xin ngài bình tĩnh lại. Cảm tạ tấm lòng của ngài.

Thấy thái hậu lại bước lên ngồi vào chiếc ghế phụng trên cao, Đăng Quế ngẩng nhìn, hiểu rằng khoảnh khắc xúc động ngắn ngủi đã qua. Quế buồn rầu:

– Thái hậu!

Thái hậu lúc này đã tự trấn tĩnh:

– Ta muốn quay lại điều vừa nói lúc nãy. Một quyết định quan trọng của ta. 

Đăng Quế bặm môi:

– Xin Đức bà cứ dạy.

Thái hậu từ tốn, chậm rãi:

– Hoàng thượng rất nhân từ, cao thượng. Nhưng ngài còn ít tuổi, chưa quyết đoán trong việc triều đình. Tính lại chí hiếu, nên việc gì cũng hỏi ý ta. Nhưng ta là đàn bà, chỉ nên quản lý công việc trong hậu cung, chẳng nên lấn tiếm việc ngoài triều. Vì vậy, thấy hoàng thượng đã khỏe dần, ta đã quyết định lui vào, từ nay không nhúng tay dự bàn vào việc triều chính nữa. 

– Đức bà không cho thần được rút lui, vậy mà chính Đức bà lại lánh mình! Sao bất công vậy?

– Ta không muốn hoàng thượng chịu ảnh hưởng của ta quá nhiều. Nếu ta cứ ngồi bên ngai vàng thì hoàng thượng sẽ hóa thành một ấu vương. Quận công hãy rèn dũa hoàng thượng thành một người đàn ông thực sự, hãy dạy bản lĩnh quân vương cho hoàng thượng!

 Đăng Quế lặng im.

Thái hậu tha thiết:

– Tình hình đất nước đang càng ngày càng khó, người Pháp đang dòm dỏ đất đai của tổ tiên ta. Khanh hãy vì xã tắc mà hết lòng phù tá hoàng thượng! Đừng nghĩ đến chuyện xa rời hoàng thượng trong lúc này!

Đăng Quế cúi đầu, nhắm mắt một giây, rồi đặt một bàn tay lên ngực:

– Từ xưa đã vậy và bây giờ vẫn vậy, mỗi lời của Đức bà đối với Quế là một lệnh truyền tối thượng. Quế xin tuân theo lời dạy: Hết lòng vì xã tắc và vì… cả Đức bà nữa.

Cố nén xúc cảm trong lòng, thái hậu đứng dậy, dợm bước vào trong.

Đăng Quế vội nói thêm lời cuối:

– Từ nay Đức bà không ra bàn chính sự, chắc chẳng bao giờ Quế thấy lại dung nhan. Vậy xin Đức bà nán lại vài giây, để Quế được chiêm ngưỡng những phút cuối cùng.

Thái hậu đứng lại. Ánh sáng từ ngoài khung cửa tụ lại như một vầng sáng quanh dáng điệu uy nghi. Ánh sáng lấp lánh trên đôi mắt còn rơm rớm ướt.

 Đăng Quế đứng lặng nhìn, cố ghi vào trí nhớ hình ảnh long lanh ấy trước lần cuối cùng bái biệt…”

Nguồn: NXB Phụ Nữ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

twenty − six =