Ngàn năm áo mũ
Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức: “Nghiên cứu văn hóa sử ở ta còn rất nhiều khoảng trống”

– Một cách ngắn gọn: tại sao anh lại nghiên cứu lịch sử trang phục Việt Nam?
+ Nghiên cứu văn hóa sử ở ta còn rất nhiều khoảng trống, mà lịch sử trang phục xưa nay chưa nhận được sự coi trọng cần thiết. Thế rồi khi cần tái hiện cách ăn mặc trong cung đình cũng như dân gian thời xưa, các nhà làm phim khi thì bê nguyên xi quần áo, tóc tai kiểu Trung Quốc về, khi thì sử dụng quần áo tuồng chèo diêm dúa, lòe loẹt quá mức v.v… Phía người đón nhận bộ phim lại có những phản ứng hết sức cực đoan trước những trang phục quá giống Trung Hoa. Đó là duyên do tôi nghiên cứu vấn đề này.
– Việc tìm kiếm các tư liệu cổ sử, nhất là về trang phục, chắc chắn có nhiều khó khăn. Tôi cảm giác rằng, hình như anh không thật sự tin tưởng lắm vào các bản dịch Hán văn hiện đang lưu hành ?
+ Trong quá trình tìm kiếm và xử lý tư liệu, tôi nhận thấy nhiều lỗi dịch sai trong các bản dịch quốc ngữ của một số bộ sử quan trọng đang lưu hành. Quan điểm nghiên cứu của tôi là sử dụng tối đa tư liệu số một, văn bản Hán Nôm gốc, thay vì dùng bản dịch hay trích dẫn lại từ những nghiên cứu của người khác.
– Nhân đây, thực trạng khảo cứu sử mà chỉ dựa vào “tương truyền rằng” khiến anh có băn khoăn, nhận xét gì?
+ Đã gọi là khảo cứu sử thì việc phân tích, phê bình tư liệu phải được đặc biệt coi trọng. Vì một khi chứng cứ viện dẫn là tư liệu giả (ngụy thư), tư liệu truyền miệng, hay trong quá trình sao chép thường xuyên xảy ra trường hợp “chữ tác作đánh chữ tộ 祚” đến khi nghiên cứu lại không so sánh văn bản để tìm ra nội dung chuẩn nhất thì kết luận sẽ không đứng vững.
– Cho dù phải học theo chế độ trang phục của Trung Hoa nhưng các triều đại Việt Nam không ít lần tạo ra sự thay đổi với những nét biến dị độc đáo. Theo anh, đâu là căn nguyên chính của thực tế này?
+ Có một thực tế cần nhấn mạnh rằng, sự du nhập chế độ trang phục, lễ nghi, quan chế Trung Quốc vào cung đình Việt Nam trong con mắt người xưa là sự so bì “bất tốn Trung Hoa” (không kém Trung Hoa), còn nay, sau rất nhiều nguyên nhân chính trị, văn hóa, người Việt lại có suy nghĩ khác, tình cảm khác đối với việc ‘giống Tàu’ này. Kết quả khảo cứu của tôi cho thấy, sự biến dị trong trang phục của Việt Nam chỉ là nhỏ còn sự tương đồng mới là lớn, mà đó cũng là đặc điểm văn hóa chung giữa các nước đồng văn khi xưa, cái mà được người xưa gọi là “đại đồng tiểu dị”.
Việc không giống 100% với Trung Quốc có nhiều nguyên do. Đơn cử như quy chế trang phục, vua ta gửi sứ sang Trung Quốc, sứ thần ghi chép, vẽ lại, hoặc mua một vài bộ trang phục đem về nước, sau đó bộ Lễ dựa vào những ghi chép, hình ảnh sứ thần mang về, định ra quy chế cho riêng nước mình. Ngoài ra, quy chế Trung Quốc thường nghiêu khê, phức tạp hơn quy chế sau khi đã du nhập vào Việt Nam. Hay nói cách khác, triều đình Việt thường có xu hướng giản hóa quy chế Trung Quốc.
– Tôi rất ấn tượng với chi tiết Ngự sử Quách Hữu Minh đã lén mua một chiếc áo Long Cổn, là hàng cấm của nhà Minh, nhân đi sứ vào năm 1502, để cụ thể hóa tâm lí “không thua Trung Quốc”. Phải chăng đây cũng là chiêu thức riêng Việt ? So với Nhật Bản, Triều Tiên, khả năng chống “Hán hóa” của người Việt có vẻ bền bỉ nhưng không quyết liệt, thưa anh?
+ Chống Hán hóa là khái niệm ngày nay tự đặt ra, nó chỉ đúng ở thời điểm hiện tại. Triều đình Việt, Hàn, Nhật luôn sử dụng ngôn ngữ, văn tự Hán, mặc trang phục kiểu Hán v.v… mà không coi việc đó là theo Hán hay chống Hán. Bởi đơn giản đó là văn hóa chung, cũng như châu Âu một thời coi tiếng Latin là ngôn ngữ quan phương, là ngôn ngữ bác học vậy. Khác với Hàn Quốc, triều đình Việt cũng như Nhật Bản luôn muốn ngang hàng với Trung Hoa, cụ thể như vua Hàn chỉ xưng vương, còn vua Việt và vua Nhật đều xưng đế, hoàng đế, như vua Trung Quốc.
– Trong cuốn sách, rất nhiều lần anh nhắc đến văn hóa cung đình. Theo anh, văn hóa cung đình Việt Nam có điểm gì nổi bật nếu nhìn từ trang phục, áo mũ ?
+ Có một thực tế ở Việt Nam cần được nhìn nhận khách quan và thẳng thắn, đó là văn hóa phong kiến, tiểu tư sản, vấn đề giai cấp v.v… từng bị hạ bệ, xóa bỏ một cách không thương tiếc. Sau đó, văn hóa dân gian lên ngôi. Cho đến ngày nay rất nhiều người khi nghĩ đến văn hóa Việt thì đều chỉ có ấn tượng về văn hóa dân gian. Văn hóa cung đình cụ thể là trang phục cung đình là thứ văn hóa mang tính giai cấp rất rõ rệt. Người trên kẻ dưới, người sang kẻ hèn, các quan chức có nhỉnh hơn nhau một chút cũng được thể hiện rất rõ qua số lượng trang sức, hoa văn trên áo – mũ. Ngoài ra, còn có rất nhiều quy định về dạng thức, hoa văn, màu sắc trang phục để phân biệt rạch ròi giữa cung đình và dân gian.
– Như cuốn sách đề cập thì trang phục dân gian, nhất là của người Việt, dường như rất ít biến đổi. Chỉ mãi về sau, có biến đổi rõ rệt ở Đàng Trong. Vì sao như vậy, thưa anh?
+ 1744 là mốc cải cách văn hóa, trang phục toàn Đàng Trong, mà sau này khi nhà Nguyễn thành lập đã phổ biến truyền thống Đàng Trong đó ra toàn quốc. Đặc biệt là cách ăn mặc áo dài khăn đóng.
Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, ông tin vào một lời sấm truyền, cho rằng ông có thể tự ý xưng vương, tự ý tạo lập một vương quốc tách biệt với triều đình Lê Trịnh ở Đàng Ngoài, cho nên năm 1744, ông thực hiện một loạt những việc như tự đúc ấn quốc vương, định kinh thành, đổi trang phục, kiến trúc v.v… nhằm khẳng định tính ưu việt của vương triều Nguyễn Đàng Trong và sự khác biệt so với Đàng Ngoài.
Trước đó, các thời Lý, Trần, Hồ, Lê không có quy định cải cách trang phục dân gian. Ngay như vua Quang Trung, khi ra Bắc, trong chiếu lên ngôi, ông cũng bằng lòng giữ nguyên phong tục Nam Bắc, không cần thay đổi theo nhau.
– Anh cũng đưa ra những phác thảo về trang phục quân đội Việt Nam thời xưa. Xin anh cho biết những đặc điểm nổi bật của loại trang phục này?
+ Quân trang Việt Nam cũng chia ra nhiều loại, loại dùng cho tướng quân, loại dùng cho khinh quân, kỵ binh, loại dùng cho lính thông thường v.v… Riêng với lính thời Lý Trần Lê, có thể thấy một chiếc khố che hạ thể đã đủ để trở thành một bộ quân trang gọn nhẹ, ta có thể thấy qua hình tượng lính trên thạp gốm hoa nâu thời Trần hay bức vẽ lính Giao Chỉ của người Philipine năm 1509. Đặc điểm nổi bật của quân trang Việt Nam là sự gọn nhẹ, thoáng mát cho hợp với thời tiết xứ ta.
– Anh có cảm thấy nản lòng khi hiện nay, trong nhiều phim cổ trang, nhiều lễ hội truyền thống, người ta dùng trang phục xưa theo lối “đại khái vầy vậy” không?
+ Bản thân trang phục cổ Việt Nam đã rất đẹp. Giờ chỉ cần làm đúng hoặc gần đúng cũng đủ mang lại mỹ quan rồi. Sự ‘đại khái vầy vậy’ trong việc tái hiện trang phục cổ chỉ khiến cho người đón nhận lắc đầu và có cái nhìn sai lệch về thẩm mỹ của người Việt xưa.
– Một câu hỏi vui: Anh cảm thấy thế nào khi nhiều người đã gọi anh là “học giả”? Trong suy nghĩ của anh, giới nghiên cứu trẻ trong lĩnh vực cổ sử hiện nay đang đối mặt với thử thách cơ bản nào?
+ Ai gọi mình là gì không quan trọng, mà quan trọng là mình làm được gì. Việc nghiên cứu phải dựa vào phương pháp, tư duy logic, khoa học, cần những chứng lý thực chứng, và trên hết là sự đam mê, cần mẫn, chứ không phải tuổi tác.
Xin chân thành cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này!
Phỏng vấn của Mai Anh Tuấn
Nguồn: vietvan.vn







![[Review Sách] “Nhà Giả Kim”: Khi Bạn Quyết Tâm Muốn Điều Gì Thì Cả Vũ Trụ Sẽ Tác Động Để Giúp Bạn Đạt Mục Đích Đó](https://diemsach.info/wp-content/uploads/2020/06/1590237472364-NHÀ-GIẢ-KIM-100x70.png)





