CHỮ VIỆT, CHẶNG ĐƯỜNG DÀI ĐỂ TRỞ THÀNH QUỐC NGỮ

0
9

Khi xây dựng nền văn minh của một dân tộc, một trong những công việc cần làm đầu tiên là tạo dựng chữ viết riêng để ghi chép và truyền lại kiến thức cho thế hệ sau kế thừa và tiếp tục phát triển.

Do bị đô hộ và đồng hóa văn hóa Trung quốc từ rất sớm, người Việt sử dụng chữ Hán trong hàng ngàn năm và chỉ phát triển được bộ chữ Nôm vay mượn từ chữ Hán từ sau khi nước nhà giành được độc lập vào thế kỉ thứ 10. Do rất khó dùng, chữ Nôm cũng không thể phổ biến cho đại chúng.

Văn minh và văn hóa Việt nam chỉ thực sự phát triển khi chữ quốc ngữ ra đời.

1/ Lịch sử hình thành chữ quốc ngữ:

Chữ Việt do những giáo sĩ phương Tây tới Việt Nam truyền đạo sáng tạo vào thế kỷ 17, bắt đầu manh nha khoảng từ năm 1625-1626. Công lớn thuộc về các giáo sĩ Bồ Đào Nha. Giáo sĩ được đương thời coi là “thầy tiếng Việt” là Francesco de Pina. Hai “học trò” của Pina là các giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa là những người đầu tiên viết từ điển Việt – Bồ và Bồ – Việt.

Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa mất tại Macau năm 1646 và 1647, để lại trong nhà thờ San Pauli ở Macau những quyển từ điển Việt – Bồ – Latin mà họ đã sáng tạo và giáo sĩ Alexandre de Rhodes là người mang từ điển đó về châu Âu. Năm 1651, quyển Từ điển Việt – Bồ – La ra đời dưới cái tên tác giả Alexandre de Rhodes. Đây là cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên xuất hiện trên thế giới và ông Đắc Lộ (tên tiếng Việt của Alexandre de Rhodes) được công nhận là người có công trong việc sáng tạo chữ Việt.

Không chỉ có Từ điển Việt – Bồ – La, giáo sĩ Đắc Lộ còn được ghi nhận là có công đầu trong việc sáng tạo chữ Việt từ quyển Phép giảng tám ngày (1651) và phần “tiểu lược về tiếng An Nam hay tiếng Bắc kỳ” còn gọi là cuốn văn phạm Việt nam đầu tiên (in chung với cuốn từ điển). Nếu Phép giảng tám ngày là cuốn sách chuyên về đạo đầu tiên của quốc ngữ thì cuốn văn phạm là sự sáng tạo không còn nghi ngờ gì nữa và là của riêng ông.

Hơn 100 năm sau, giám mục D’Adran tức giáo sĩ người Pháp Pierre Pigneaux de Béhaine còn được gọi là Bá Đa Lộc hay đức Cha cả (sinh năm 1741 tại Pháp, mất năm 1799 tại Sài Gòn), người từng giúp Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn, là người phương Tây học chữ Việt tiếp theo mà chúng ta biết. Ông đã biên soạn bộ tự vị Việt – La tại Sài Gòn từ tháng 9-1772 đến tháng 6-1773, với sự giúp đỡ của một số giáo sĩ người Việt và Pháp. Phần chính văn 662 trang là từ điển song ngữ, tiếng Việt được ghi theo hai lối viết (Nôm và quốc ngữ) xếp theo vần a, b, c, được giải nghĩa bằng tiếng Latin. Điểm đáng lưu ý là chữ quốc ngữ trong bộ tự vị này gần như hoàn toàn giống với chữ quốc ngữ hôm nay, các phụ âm đôi như bl, ml… của tiếng Việt thế kỷ 17 đã biến mất hẳn. Có thể nói là kể từ đây, chữ Việt đã trở nên hoàn chỉnh.

Sau Bá Đa Lộc, giáo sĩ Taberd đã soạn bộ Nam Việt dương hiệp tự vị, thường được gọi là Tự điển Taberd, in năm 1838 tại Ấn Độ. Từ điển Taberd gồm ba phần. Phần mở đầu có 46 trang văn phạm, nghiên cứu âm vị tiếng Việt, mô tả tiếng Việt, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, mô tả cấu trúc lời nói, câu văn tiếng Việt và chỉ dẫn cách làm thơ; Phần thứ hai: chính văn gồm 620 trang, mỗi trang hai cột, thu thập 4.959 mục tự; Phần ba: có 39 trang phụ lục về tên gọi các loại cây cỏ, hoa trái miền Nam và công dụng của nó trong y thuật và 135 trang phụ lục ghi các từ Hán Việt thông dụng. Đây là một bước tiến góp phần điển chế hóa tiếng nói và chữ viết Việt nam.

Thế nhưng trong suốt hơn 200 năm sau đó kể từ năm 1651, do chính quyền cấm đạo, do giới trí thức nho học bỏ qua hoặc không để ý tới, do bị nghi kỵ thứ “chữ của người nước ngoài”, chữ Việt vẫn chìm trong “bí mật” và chỉ phát triển quanh quẩn trong các nhà thờ, các xứ đạo Thiên Chúa giáo. Phải mãi tới khi có sự áp đặt của chính quyền thực dân Pháp, chữ Việt mới dần trở thành chữ quốc ngữ.

 2/ Tiến trình chữ Việt chính thức trở thành chữ Quốc ngữ trên toàn lãnh thổ:

Tại Nam kỳ, ngày 1-1-1882, chính quyền thực dân Pháp đã buộc người Việt ở Nam kỳ “phải dùng chữ quốc ngữ”. Nội dung quan trọng này nằm trong nghị định ra ngày 6-4-1878 “về việc dùng tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin” do thống đốc Nam kỳ Lafont ký, sau 20 năm Pháp xâm chiếm nước ta. Nghị định ghi rõ:

“Xét rằng chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin ngày nay đã khá phổ thông trong các tỉnh Nam kỳ, là thứ chữ dễ học hơn chữ Nho và tiện lợi nhiều so với chữ Nho trong việc làm cho những giao dịch giữa các quan cai trị với dân bản xứ được trực tiếp hơn. Xét rằng việc dùng hợp pháp thứ chữ đó chỉ làm cho dân chúng dễ đồng hóa với chính quyền ta, và vì thế thật là một đường lối chính trị tốt nếu bắt buộc dùng nó trong các giao dịch chính thức. Tuy nhiên, xét rằng một cải cách quan trọng như thế không thể thực hiện được ngay tức khắc, và để thực hiện nó cần có sự cộng tác của những tầng lớp lãnh đạo trong dân chúng. Chiếu đề nghị của quyền giám đốc nội vụ, sau khi hội đồng tư vấn đã được hội ý kiến, nay ra nghị định:

Điều 1: kể từ ngày 1-1-1882 tất cả những văn kiện chính thức, nghị định, quyết định, sắc lệnh, phán quyết, chỉ thị…sẽ được viết, ký và công bố bằng chữ mẫu tự Latin.
Điều 2: kể từ ngày trên, không một tuyển dụng nào được thi hành, không một thăng trật nào được cho phép, trong ngạch phủ, huyện, tổng đối với bất cứ ai không ở trong tình trạng viết được chữ quốc ngữ.”
Và ngày 30-1-1882, thống đốc Nam kỳ Le Myre de Vilers ra nghị định nhắc lại lần cuối cùng: “kể từ ngày hôm nay, việc chỉ dùng những mẫu tự Pháp trở thành bắt buộc trên toàn cõi Nam kỳ thuộc Pháp, trong những giấy tờ chính thức viết bằng tiếng An Nam”. Nếu lấy đây là ngày chữ Việt chính thức trở thành quốc ngữ thì tính tới nay, tuổi đời của nó mới chỉ là 135 năm!

Vì sao Pháp muốn áp đặt việc dùng chữ quốc ngữ? Thông tư ngày 10-4-1878 của giám đốc Nha nội vụ Béliard thể hiện rõ nhất quan điểm sau của Pháp: “Chúng ta sẽ rất lợi cả về mặt chính trị lẫn thực tế, nếu làm tiêu tan dần dần chữ nho mà việc dùng thứ chữ đó chỉ có thể có một ảnh hưởng tai hại đối với công trình đồng hóa mà chính phủ đang dồn mọi nỗ lực thực hiện”.

Thế nhưng việc “quốc ngữ hóa” Nam kỳ diễn ra không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió như mong muốn của người Pháp. Phía những người theo Pháp và những người được coi là giàu có không phải ai cũng dễ dàng cho con em đi học chữ quốc ngữ. Ngoài ra việc sợ con cháu mất gốc mà trốn tránh việc đi học chữ quốc ngữ, còn vì đó là chữ của đạo Công giáo.Chưa kể người có liêm sỉ thì khó thể chấp nhận bất cứ điều gì của quân cướp nước đề ra ngay trong lúc nhục mất nước còn nóng hôi hổi!

Do vậy, việc đi học rất ư là hành chính. Thực dân ra lệnh tận làng xã “bắt trẻ con đi học chữ quốc ngữ như bắt lính”. Còn hương chức hội tề thì “khuyến dụ, cưỡng ép trẻ con đi học” để được thăng thưởng. Rất nhiều người đã mướn hoặc bắt đầy tớ trong nhà đi học thay con em mình.

Phía các sĩ phu, sự chống đối diễn ra dữ dội hơn. Năm 1885, một số thân hào nhân sĩ đã gửi thư thỉnh nguyện đến Hội đồng quản hạt Nam kỳ “đề nghị bãi bỏ chữ quốc ngữ”. “…Theo thiển ý chúng tôi, hiện nay chỉ có hai thứ tiếng có thể được ở Nam kỳ, tiếng Pháp mà chúng tôi muốn học và tiếng Annam nôm na mà chúng tôi đều biết viết bằng chữ Nôm… Quý vị hãy đoán xem chúng tôi lúng túng thế nào mỗi khi chúng tôi nhận được những lệnh viết bằng thứ chữ (quốc ngữ) trên, chúng tôi phải chạy kiếm hàng chục người thông ngôn mà chúng tôi phải trả tiền, để rồi rốt cục họ đã làm chúng tôi hiểu hoàn toàn ngược lại với những gì người ta muốn truyền lệnh cho chúng tôi”.

Cuối năm 1874, các trường chữ nho bị bãi bỏ biến thành các trường dạy chữ quốc ngữ và gom về các trung tâm tỉnh lỵ lớn là Sài Gòn, Chợ Lớn, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Sóc Trăng và Bến Tre. Nhân viên của các trường này gồm một hiệu trưởng người Pháp biết nói tiếng Việt và các giáo viên bản xứ biết nói tiếng Pháp.

Năm 1879, thống đốc Nam kỳ Lafont quyết định thành lập nền học chánh Pháp – Việt với ba cấp học là sơ đẳng, tiểu học và cao đẳng tiểu học. Ở cấp thứ nhất, học sinh sau ba năm chỉ cần nghe, viết được vài câu đơn giản, đọc một trang sách sơ đẳng và biết bốn phép tính. Cấp thứ hai chủ yếu là tiếng Pháp và số học, hình học. Cấp thứ ba nới rộng chương trình tiếng Pháp, khái niệm các môn vật lý, toán, khoa học tự nhiên…

Như vậy, đến năm 1879, thực dân Pháp căn bản đã hoàn thành “đại chúng hóa” việc giáo dục toàn Nam kỳ và chữ quốc ngữ căn bản đã trở thành thứ chữ “được học và phải học” của bất cứ ai muốn đi học. Nói một cách khác, với nền học chính bằng tiếng Việt viết theo mẫu tự Latinh, chữ Việt đã lấn át gần như hoàn toàn chữ nho.

Sau Nam kỳ, chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ ra Bắc Kỳ. Ở miền Bắc, việc mở mang trường học đi chậm hơn gần 10 năm. Đến tháng 4-1886, cả miền Bắc chỉ có ba trường Pháp. Nhưng qua năm 1887 đã có một trường thông ngôn, chín trường tiểu học nam, bốn trường tiểu học nữ, một trường tư dạy vẽ và 117 trường tư dạy chữ quốc ngữ.

Nhưng sự truyền bá rộng rãi chữ quốc ngữ không thể không nói đến vai trò của Hội Truyền bá Quốc ngữ và sau này là Bình dân Học vụ.

3- HỘI TRUYỀN BÁ QUỐC NGỮ

Việc cổ động cho học “chữ Quốc ngữ” ở toàn cõi nước Việt gắn với các phong trào cải cách trong giai đoạn 1890 – 1910 như Hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành, đã thừa nhận và cổ vũ học “chữ Quốc ngữ”, coi là phương tiện thuận lợi cho học hành nâng cao dân trí

Trước khi hội truyền bá quốc ngữ ra đời, ở Hà Nội đã có những lớp “Tránh học” (lớp dạy chữ cho những người lớn tuổi), lớp “dạ học” (lớp dạy đêm cho bà con lao động vì phải làm việc ban ngày) do các ông Hà Huy Tập, Trần Văn Tảng, Đặng Thai Mai, Lê Thước… đề xướng và tổ chức thực hiện.

Đầu 1936, mặt trân nhân dân Pháp mà ĐCS Pháp là nòng cốt thắng lợi trong tổng tuyển cử. Thành lập chính phủ mặt trận bình dân. Nắm lấy thời cơ, Đảng ta thành lập mặt trận dân chủ Đông Dương chủ trương “Triệt để lợi dụng khả năng hợp pháp và bán hợp pháp để tổ chức tuyên truyền quân chúng…”. Một bộ phận Đảng ra hoạt động công khai, sách báo tiến bộ được in ấn nhiều. Tuy nhiên, tình trạng mù chữ trong nhân dân cao thúc đẩy người hoạt động cách mạng xúc tiến thành lập “Hội truyền bá quốc ngữ”. Hội Truyền bá Quốc ngữ ra đời ngày 25/5/1938, đến ngày 29/7/1938 Thống sứ Bắc Kỳ công nhận sự hợp pháp của Hội.

Hội đã tham gia suốt quá trình đấu tranh của dân tộc, theo từng giai đoạn lịch sử cho tới ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30 – 04 – 1975.

Hội Truyền bá học Quốc ngữ Bắc kỳ

Theo đơn đề nghị của cụ Nguyễn Văn Tố ngày 8.4.1938, ngày 29.7.1938, Hội Truyền bá học Quốc ngữ chính thức được thành lập theo Quyết định số 3622-A của Thống sứ Bắc Kỳ(1). Hội được thành lập với mục đích truyền bá chữ Quốc ngữ để người dân biết đọc biết viết từ đó có thể dễ dàng tiếp cận các điều thường thức cần thiết cho cuộc sống hiện đại. Hội hoạt động theo quy định tại Sắc lệnh ngày 21.2.1933 về các hội phi tôn giáo ở Đông Dương. Hội quán đặt ở số 59 phố Hàng Quạt, Hà Nội.

Theo điều lệ Hội, việc tổ chức các lớp học, các buổi hội thảo không chỉ ở Hà Nội mà còn ở các tỉnh. Thành viên của Hội gồm tất cả các cá nhân mọi quốc tịch, không phân biệt giới tính, không hạn chế số lượng. Thành viên Ban Trị sự Hội năm 1938 gồm : Nguyễn Văn Tố (Hội trưởng) ; Bùi Kỷ và Tôn Thất Bình (Hội phó) ; Phan Thanh (thư ký), Phạm Hữu Chương và Quản Xuân Nam (phó thư ký), Đặng Thai Mai (thủ quỹ), Nguyễn Văn Lô và Võ Nguyên Giáp (phó thủ quỹ) ; các cố vấn Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn và Lê Thước (2).

Mặc dù bề ngoài là một hội được thành lập một cách hợp pháp, nhưng mọi hoạt động của Hội đều bị Sở Mật thám Bắc Kỳ theo dõi sát sao. Chính quyền Pháp nghi ngờ đây là một hội của những người theo chủ nghĩa Xta-lin không có lợi đối với chính sách của Pháp thời kì đó. Do đó, hầu hết các thành viên của Hội đều nằm trong danh sách theo dõi của mật thám Pháp, đặc biệt là một số chí sĩ cách mạng, nhà yêu nước như Đặng Xuân Khu mang số T.4995.I, Đặng Thai Mai mang số T.4776.I, Chu Văn Tập mang số T7124.I, Võ Nguyên Giáp mang số T6740.I, Ngô Thúc Địch mang số T5220.I…(3). Tuy vậy, Hội vẫn tổ chức rất nhiều hoạt động rầm rộ để tuyên truyền cho việc học chữ Quốc ngữ, đồng thời tuyên truyền tư tưởng cách mạng.

Chương trình hoạt động của Hội tập trung vào các việc sau :

– Mở lớp học vào buổi tối với hình thức giống như các lớp mẫu giáo để tạo điều kiện cho học trò vì hầu hết họ là nhưng người nghèo và phải đi làm thuê. Học trò được cung cấp miễn phí tất cả các đồ dùng cần thiết như sách, vở, quản bút. Việc giảng dạy những khái niệm về chữ Quốc ngữ theo phương pháp hợp lý hơn phương pháp truyền thống, theo sách tập đọc do Hội ấn hành, giữ vị trí vượt trội trong chương trình vì đó là mục đích chính của Hội và là một loại “vườn ươm” chương trình giáo dục sơ đẳng.

– Tổ chức các cuộc diễn thuyết để truyền bá tôn chỉ hoạt động của Hội, chủ yếu vào các buổi phát phần thưởng hoặc những hôm tổ chức cổ động.

– Xuất bản sách.

– Lập thư viện bình dân…

Công việc nặng nề nhất của Hội là tổ chức các lớp học. Hội bắt đầu mở lớp vào ngày 9 tháng 7 năm 1938 tại Hội quán Tri trí và trường Thăng Long. Sau khoá học 4 tháng đầu tiên này, khoá thứ 2 tăng lên ở 4 khu trường và đến khoá 5 thì được tổ chức tại 12 khu trường. Khoá 6 (năm 1941) tăng lên ở 14 khu và khoá 7 tăng vọt lên ở 33 khu trường, gồm 68 lớp, tổng số học sinh lên đến hơn ba nghìn mỗi khoá.(4)

Đến năm 1942, số lượng hội viên đã lên đến 7500, trong đó có khoảng 4000 hội viên đóng hội phí đều. Tuy nhiên, số tiền hội phí thu được không thể đủ chi cho các hoạt động của Hội. Do đó, Hội cần sự ủng hộ của các nhà hảo tâm và tiền thu được từ các buổi chiếu bóng, từ việc phát hành vé số….

Để việc truyền bá chữ quốc ngữ nhanh chóng, hội yêu cầu những người đã được hội dạy cho biết chữ phải cố gắng dạy lại cho một số người thất học khác xung quanh mình. Hội tổ chức các cuộc diễn thuyết nhằm giảng dạy, phổ biến những điều thường thức cho đồng bào. Xuất bản sách nhằm bổ khuyết việc học ở lớp, hội chủ trương biên soạn và xuất bản loại sách thường thức phổ thông về sử ký, địa lý, vệ sinh, khoa học… phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

Tới khoảng giữa khoá học thứ 5 (11-1940) Hội đã mở được thêm một số khu trường ở ngoài thành phố như: Khu Công Ích (ở Bạch Mai), khu Đào Thành (ở Yên Phụ), Khu Đông Quan (ở Cầu Giấy), rồi dần lan ra các vùng lân cận.

Từ năm 1942, Hội đã ráo riết vận động lập chi Hội ở các tỉnh làm cơ sở phát triển cho các lớp truyền bá quốc ngữ ở nông thôn. Đồng thời Hội cũng tăng cường tổ chức và lãnh đạo về mọi mặt cho phù hợp với tình hình mới.

Hội tổ chức “Hội nghị giáo khoa toàn quốc”. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước tiến mới của hội truyền bá quốc ngữ.

Thời kỳ này số khu trường đã tăng lên 35 khu. Số giáo viên khoá 12 lên tới 245 người. Khoá này cũng nhận đến 3000 học viên học lớp sơ đẳng. Ngoài ra, Hội cũng mở nhiều khoá cao đẳng. Hội lập được thêm 11 chi hội mới.

1944-1945 Hội truyền bá quốc ngữ Bắc kỳ đã chủ trương chớp lấy thời cơ, mở rộng phong trào. Một mặt, Hội mở thêm nhiều trường lớp ở vùng nông thôn; mặt khác, tăng cường việc liên hệ với các tỉnh, lập thêm nhiều chi nhánh mới, đẩy mạnh công cuộc chống nạn thất học,

Thành lập Hội truyền bá Quốc ngữ ở Trung kỳ

Ở Trung kỳ, nhờ có phong trào đấu tranh đòi cải thiện dân sinh dân chủ lên mạnh, nhờ ảnh hưởng tuyên truyền cổ động của hội truyền bá quốc ngữ ở ngoài Bắc lan vào, dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua một số đồng chí Đảng viên cùng một số thân sĩ đã đứng ra xin phép thành lập hội Truyền bá quốc ngữ Trung kỳ. Tuy cũng có những khó khăn nhưng đến 5/1/1939 thì hội Truyền bá quốc ngữ Trung kỳ được chính thức thành lập ở Huế. Mục đích hoạt động, tổ chức và các hoạt động tiến hành gần giống hội truyền bá quốc ngữ ở Bắc kỳ.

Tại miền Trung, mãi cho tới năm 1943 Hội mới có điều kiện phát triển và có những bước phát triển tương đối mạnh. Hội đã thành lập được chi hội ở nhiều tỉnh như: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đà Nẵng, Thuận An, Đà Lạt.

Tính đến tháng 9 – 1944, Hội truyền bá quốc ngữ Trung kỳ đã dạy được cho hơn 9.458 người biết chữ.

Thành lập Hội truyền bá quốc ngữ Nam kỳ

Mặc dầu đã có tiền lệ ở Bắc và Trung kỳ, nhưng Hội Truyền bá quốc gữ Nam kỳ không dễ được thực dân Pháp cho phép hoạt động.

Ngày 29-1-1941, quân Nhật đổ bộ vào Đông Dương, đưa ra chính sách lừa mị “vùng thịnh vượng Đông Nam Á”. Trước tình trạng quân Nhật ngày càng lộng hành, bên chính quốc Pháp đã đầu hàng Đức, thực dân Pháp ở Đông Dương Phải xét lại các chính sách hà khắc, nới rộng tự do hơn, hoàng giành dân. Lợi dụng tình hình này các nhà yêu nước bàn chuyện thành lập hội truyền bá quốc ngữ Nam kỳ. Ngày 18 – 8 – 1944, Thống đốc Nam kỳ Hoeffel trao giấy phép hoạt động hội cho Nguyễn Văn Vĩ. Ngày 5/11/1944, hội ra mắt đồng bào Sài Gòn.

Cho đến cách mạng tháng 8/1945, số đồng bào nghèo mù chữ trên cả nước nhờ hội dạy cho biết đọc, biết viết và qua học tập, hiểu biết lên tới con số trên 6 vạn người. 

  1. Bình dân học vụ- phổ cập đại chúng quốc ngữ

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, chính phủ lâm thời đảm trách công việc của Hội Truyền bá quốc ngữ với tên Bình dân học vụ với các chủ trương mục tiêu không khác trước. Ngay sau khi cách mạng thành công, Chính phủ lâm thời Dân chủ cộng hòa đã có sắc lệnh số 20 ngày 8-9-1945 do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Võ Nguyên Giáp ký: “Trong khi đợi lập được nên tiểu học cưỡng bách, việc học chữ quốc ngữ từ năm nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người (khoản 1). Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên tám tuổi phải biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ. Quá hạn đó, một người dân Việt Nam nào trên tám tuổi mà không biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ sẽ bị phạt tiền (khoản 2).

Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị mở chiến dịch “Chống nạn mù chữ”, vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Không chỉ vậy, tháng 10-1945, đích thân Bác Hồ đưa ra Lời kêu gọi chống nạn thất học có đoạn “Số người Việt Nam thất học so với số người trong nước là 95%, nghĩa là hầu hết người Việt Nam mù chữ. Như thế thì tiến bộ làm sao được?… Chính phủ đã lập một Nha Bình dân học vụ để trông nom việc học của nhân dân… Mọi người Việt Nam… phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy cho người chưa biết chữ, hãy góp sức vào Bình dân học vụ” (Hồ Chí Minh – NXB Sự Thật 8-1975).

Năm 1945, khi Việt Nam giành được độc lập, 95% dân Việt Nam mù chữ. Đây là một trong các quốc nạn đối với một quốc gia mới giành độc lập.

Để phục vụ chiến dịch xóa nạn mù chữ, Nha bình dân học vụ được thành lập ngày 18 tháng 9, khoá huấn luyện giáo viên Bình dân học vụ đầu tiên mang tên Hồ Chí Minh mở tại Hà Nội.

Vì nhà nước non trẻ ngân sách thiếu thốn, phong trào dựa vào sức dân là chính. Ngân quỹ được chỉ dụng cho chương trình chỉ trả lương được tối đa 1.000 giáo viên, trong khi số giáo viên cần thiết tối thiểu là 100.000. Người đi học được miễn phí. Giáo viên không nhận lương. Mỗi tỉnh phải tự túc giáo viên. Khi ngân sách còn eo hẹp, các lớp bình dân học vụ dùng phấn hay gạch để viết xuống đất thay cho bút và giấy.

Phong trào nhanh chóng lan rộng khắp cả nước.

Tính đến cuối năm 1945, sau hơn ba tháng phát động, theo báo cáo chưa đầy đủ của các tỉnh Bắc bộ gửi về Bộ Quốc gia giáo dục thì đã mở được hơn 22.100 lớp học với gần 30 nghìn giáo viên và đã dạy biết chữ cho hơn 500 nghìn học viên mà tổng chi phí xuất từ ngân sách trung ương là 815,68 đồng, còn lại đều do các địa phương và tư nhân chi trả.

Đến cuối năm 1946, Bộ Quốc gia giáo dục báo cáo có 74.975 lớp với 95.665 giáo viên, riêng ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã có 2.520.678 người biết đọc, biết viết. Tới năm 1948, 6 triệu người đã thoát nạn mù chữ và đến năm 1952 là 10 triệu người, chiến dịch xoá nạn mù chữ cơ bản được hoàn thành. Đi đôi với việc diệt “giặc dốt”, việc bổ túc văn hoá để củng cố sự đọc thông, viết thạo của những người đã thoát nạn mù chữ được tổ chức và đẩy mạnh, trình độ văn hoá của cán bộ và nhân dân lao động cũng được nâng lên.

 Các nguồn tham khảo chính:

http://tuoitre.vn/…/20111219/130-nam-thang-tram…/469886.html

http://www.archives.gov.vn/…/Cng%20b%20gii%2…/DispForm.aspx…

http://suhoctre.hisforum.net/t1759-topic

https://vi.wikipedia.org/…/B%C3%ACnh_d%C3%A2n_h%E1%BB%8Dc_v…

https://diendankhaiphong.org/mot-that-bai-cua-gioi-si-phu-…/

Nguyễn Đông (2017)

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here