Tại sao chúng ta luôn luôn trở lại với Vũ Trọng Phụng ?
Bài của NPB VƯƠNG TRÍ NHÀN
07-11-2012

Lời dẫn
Có thể dễ dàng giải thích Vũ Trọng Phụng lôi cuốn chúng ta là vì một thời gian dài, ở Hà Nội, đến gần ba chục năm, tác phẩm của ông không được in lại.
Tuy nhiên, cái chính không phải ở chỗ đó.
Trước và sau chiến tranh ít năm, số tác giả bị cấm đoán khá nhiều – rõ nhất là trường hợp các nhà văn Tự Lực văn đoàn và các nhà thơ trong phong trào Thơ mới.
Nhưng nếu không tự dối lòng, phải nhận rằng trừ có Thạch Lam, còn như cả Khái Hưng, Nhất Linh — mà nhất là Nhất Linh – sau khi không bị hạn chế thì vẫn không có được sự hấp dẫn với công chúng rộng rãi, mặc dù trên ý thức ta vẫn biết rằng trong khung cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX, tác giảĐoạn tuyệt Lạnh lùng Bướm trắng… là một ông lớn.
Tôi nhớ lần cuối cùng gặp nhà văn Nguyễn Mộng Giác ở Hà Nội cách đây mấy năm, anh Giác cũng phải thầm kêu với tôi là bây giờ làm sao đọc được Nhất Linh với niềm say mê như năm sáu chục năm trước.
Cũng nên nói thêm là trong sinh hoạt văn học miền Nam trước 1975, Vũ Trọng Phụng cũng chỉ giữ một vai trò … vừa phải.
Trong các cuộc bàn luận văn học người ta ít nhắc đến ông.
Văn phẩm của ông không trở thành cái mà người ta ao ước “giá kể mình cũng viết được những trang như thế”. Trong các sách giáo khoa văn học ông cũng chỉ chiếm một vị trí tương tự như Nguyễn Công Hoan Lê Văn Trương…
Còn ở Hà Nội, tính theo cả thời đại lớn hơn sáu chục năm nay, phải nhận một tiểu thuyết như Số đỏ đã sống hết mọi biên độ mà một tác phẩm văn chương có thể có. Bị coi là một dâm thư. Bị quăng lên quật xuống, xỉ vả hành hạ. Rồi lúc khác lại được in đi in lại như thứ của quý, phải chia đều cho mọi người cùng hưởng — mới đây cả nhà xuất bản Kim Đồng chuyên làm sách cho thiếu nhi cũng đã đứng tên in lại tác phẩm này trong tủ sách vàng của mình .
Và tác giả thì được đẩy lên vai trò của một nhà văn thần thánh thuộc cái cỡ của những văn hào thế giới Stendal Balzac.
Có lý do nào làm cho họ Vũ trở thành có sức lôi cuốn đặc biệt với đời sống văn học Hà Nôi và đời sống văn học cả nước được Hà Nội hóa sau 1975?
Ở đây, hình như đã có một sự gặp gỡ. Nghĩa là chúng ta đọc nhiều vì chính nhu cầu của chúng ta chứ không phải chỉ vì Vũ Trọng Phụng.
Tôi tạm giả định là với một tác phẩm như Giông tố, cái chính là đám đông độc giả và cả giới cầm bút chúng ta tìm thấy một tâm tình phổ biến mấy chục năm nay—một sự bất mãn thường trực với hoàn cảnh. Bất mãn khó chịu căm giận muốn đạp đổ muốn trốn tránh mọi dây rợ ràng buộc… mà không sao thoát nổi. Vượt lên trên cái cảm giác về một cuộc đời lay động đến từng ngõ ngách, chính cái sự bứt rứt cay đắng bất lực của con người mới là cái dư vị kéo dài sau khi theo dõi câu chuyện trải rộng từ nông thôn đến đô thị này.
Hoặc như trường hợp nhân vật Xuân tóc đỏ. Ngay so với Chí Phèo thì Xuân cũng thu hút tâm trí chúng ta nhiều hơn. Tại sao?
Chí Phèo là phần con người chúng ta đã thoát khỏi.
Còn Xuân như đang đồng hành với chúng ta gợi ý cho ta về cách sống cách nghĩ.
Một mặt cái anh Xuân nhặt ban ấy là đối tượng để chúng ta chế giễu. Một lương tri bình thường không bao giờ quên rằng khi nói về Xuân là phải thêm vào cụm từ “kẻ cơ hội đáng khinh đáng ghét”.
Nhưng trong thâm tâm — nếu tôi không nhầm — thì chính ra nhiều người chúng ta thấy mình nào khác thân phận chàng Xuân nọ.
Cũng như Xuân, phần lớn chúng ta bắt đầu lập nghiệp trên một mặt bằng khó khăn. Khi bước vào ngưỡng cửa cuộc đời lạ lẫm, cái làm cho chúng ta làm thành những con người là ở những tham vọng. Giữa thời điên loạn xiết bao mong mỏi là giá có thể được gặp may và điều duy nhất chúng ta tự nhủ mình là nhớ phải cố tận dụng cái may mỗi khi nó tới.
Một cách giải thich như vậy theo tôi không làm giảm ý nghĩa của ngòi bút họ Vũ.
Ngược lại khi làm một cuộc đối chiếu để từ cái quá khứ chưa xa ấy, phát hiện ra những cảnh ngộ, những vấn đề của cuộc sống hôm nay, ta sẽ tìm thấy ở việc đọc sách ý nghĩa thiết thực. Những trang viết cả hay cả dở cả vụng về luộm thuộm lẫn sáng giá xuất thần của Vũ Trọng Phụng sẽ soi sáng cuộc sống trước mắt chúng ta. Và cuộc đối chiếu đó hứa hẹn nhiều khía cạnh thú vị mà tôi tin là ở dưới suối vàng nhà văn họ Vũ cũng không mong gì hơn.
Trên đây là những ý nghĩ mới hình thành trong tôi vào dịp kỷ niệm 100 năm sinh của Vũ Trọng Phụng (20/10/1912- 20/10/2012). Đáng lẽ cần phải triển khai rộng ra hơn nữa.
Tuy nhiên khi xem lại các bài viết của mình về nhà văn này mười năm trước hai mươi năm trước, tôi thấy hình như phần nào các ý nghĩ trên đã manh nha trong mình, bởi vậy xin giới thiệu lại ở đây, gọi là làm đà để bản thân cũng như những bạn cũng có suy nghĩ như mình có thêm hào hứng làm tiếp công việc cần làm.
Công việc trước mắt của tôi chỉ là qua Vũ Trọng Phụng để hiểu thêm người Việt xã hội Việt. Còn ước ao ư? Ước là một mai đây, ai đó trong các nhà nghiên cứu văn học tương lai sẽ viết được một cuốn sách về Vũ Trọng Phụng ở cái trình độ mà người ta gọi là nắm được cái thần của Vũ Trọng Phụng. Và mỗi khi có người bạn quốc tế nào muốn hiểu Việt Nam ta sẽ đưaSố đỏ Giông tố cho họ đọc, kèm theo cuốn sách phê bình này. Và ta khẽ bảo thêm họ:
— Vâng, muốn hiểu chúng tôi, nhất định là ông phải đọc Vũ Trọng Phụng rồi. Nhưng trước khi cùng chúng tôi tiếp tục khai phá các trang viết của nhà văn, mong ông bớt chút thời giờ nghe chúng tôi lược lại cái đầu dây mối nhợ nó đã làm cho nhà văn họ Vũ trở nên thân thiết với chúng tôi đến vậy. Sau đó hy vọng là các ông sẽ trở lại Vũ một lần nữa, trở lại với nghĩa tiếp tục cùng chúng tôi đi mãi vào con đường tìm hiểu cái cộng đồng mà mặc dù là người trong cuộc, chính chúng tôi cũng chưa tự hiểu hết.
Bài một
VŨ TRỌNG PHỤNG
VÀ MỘT LỚP NGƯỜI THÀNH THỊ,
MỘT NỀN VĂN CHƯƠNG ĐÔ THỊ
VÀ MỘT LỚP NGƯỜI THÀNH THỊ,
MỘT NỀN VĂN CHƯƠNG ĐÔ THỊ
Nhìn vào tấm ảnh Vũ Trọng Phụng còn sót lại và in ở tập I của Tuyển tập Vũ Trọng Phụng hôm nay, khó lòng có ai nghĩ rằng con người đó mất khi mới 27 tuổi.
Cái gì là thần thái chính hiện lên trên khuôn mặt đó? Một chút chán chường hoài nghi về thế thái nhân sinh toát ra sau cặp mắt mệt mỏi. Mà cái nhìn chậm rãi pha chút mệt mỏi ở đây lại như một điều cả quyết – không, sự chán chường của tôi là không thể nào cứu vãn được. Nó là kết luận tôi buộc phải rút ra từ cả cuộc sống sôi nổi với cái thế “day tay mắm miệng” quyết liệt của mình. Tôi đã định từ chối mà không sao từ chối nổi. Vậy tôi bằng lòng chấp nhận nó. Sống ngắn ngủi thế cũng đã đủ rồi. Ra đi không có gì phải nuối tiếc nữa. Dẫu sao cũng còn hơn chán vạn kiếp sống thiểu lực nhạt nhẽo khác.
Và Vũ Trọng Phụng đã toại nguyện.
Từ tác phẩm của Vũ Trọng Phụng người ta cũng bắt gặp một cái nhìn cuộc sống tương tự như vậy – một cái nhìn đã ổn định, đã vững vàng, đã đủ cay đắng chua xót, cả hăm hở lẫn chán chường rồi, nên cũng coi như đã trọn vẹn và tất cả là không thể sửa chữa được nữa.
Một điều người ta thường ngạc nhiên mỗi khi nghĩ tới những trang văn của Vũ Trọng Phụng là sao con người này có thể biết nhiều đến thế. Chữ từng trải đối với ông hình như không hợp, phải nói là ông biết lắng nghe, biết tổng hợp, biết từ một cuộc sống hữu hạn của mình thu góp lấy tinh hoa của bao cuộc sống khác, nên mới có sự thông thuộc, sự thành thạo đối với nhiều mảng sống khác nhau vậy. Từ lễ phát chẩn đông hàng ngàn người trước cổng một nhà triệu phú đến một buổi tối sáng trăng, mấy người nhà quê ngồi bóc lạc luộc gẫu chuyện; từ những đám bạc, những đám hút xách, cảnh chơi bời của đám nhà giàu và công chức Hà thành, tới một buổi việc làng, một bữa cơm chạy lụt… tất cả bấy nhiêu khung cảnh, sự việc rồi là lời lẽ của con người, những chi tiết trong trang phục, thoáng lo lắng chợt hiện ra trong tâm tư một bà mẹ già… hầu như cái gì Vũ Trọng Phụng cũng biết, cũng mô tả một cách rành mạch. Stéfan Zweig nói rằng trong Balzac “có cả một thời đại, cả một vũ trụ, cả một thế hệ”. Đôi lúc đọc những Cơm thầy cơm cô, Kỹ nghệ lấy Tây, Số đỏ, Giông tố… người đọc bất chợt nghĩ rằng cũng có thể nói về Vũ Trọng Phụng bằng một câu tương tự.
Ta sẽ ngạc nhiên hơn, nếu như nhớ rằng mặc dù trải rộng ra như vậy nhưng cũng như ở nhiều nhà văn lớn, thế giới của Vũ Trọng Phụng là một thế giới định hướng rõ rệt. Tác giả biết nhuộm cho cái nhân gian do ông vẽ ra một sắc thái chỉ riêng ông có. Trong khi chiếm lĩnh khách quan, văn chương của ông vẫn chủ quan đến từng chi tiết. Dù viết về cái gì ông cũng tìm ra được lý do để mang được cách giải thích nhân sinh của mình vào đó, và tạo ra đủ cớ để cho người ta phê phán ông là định mệnh, cay nghiệt, hoài nghi, và cả khiêu dâm nữa.
Dù viết về cái gì, ông cũng để lại dấu ấn con người mình, cách nghĩ mình, cả tính mình. Từ các trang sách, ông mỉm cười với hậu thế:
– Tôi là thế đấy. Tôi độc đáo và không lặp lại như một hiện tượng thiên nhiên. Tôi luôn luôn mời gọi người tới lý giải!
*
Nghị Hách và Xuân Tóc Đỏ, ông đồ Uẩn và cụ Cố Hồng, người tù chính trị được tha có tên là giáo Minh và ông già Hải Vân hành tung bí mật dám làm đủ chuyện ám muội. Rồi bà Phó Đoan, thị Mịch, Tuyết, Loan, cụ Cử, chị Tuất v.v… và v.v… Thế giới nhân vật của Vũ Trọng Phụng khá đông và thuộc nhiều giới khác nhau. Khi được nâng lên đến mức điển hình, một số người trong họ là tài liệu quý, giúp đỡ đắc lực cho những ai muốn nghiên cứu về xã hội hoặc tìm hiểu tài nghệ ngòi bút Vũ Trọng Phụng. Nhưng còn như để hiểu tâm sự người viết, cái phức tạp đa đoan của chính tác giả, thì có những nhân vật chỉ đóng vai phụ, hoặc có vẻ không tiêu biểu gì, thật ra lại là một thứ chìa khoá khá tốt, mà người nghiên cứu không có quyền xao nhãng.
Ý chúng tôi muốn nói tới nhân vật Long trong Giông tố.
Vốn có một cuộc sống cơ cực, tủi nhục (đặc biệt về mặt tinh thần), lại tiếp thu được một ít kiến thức, và có lúc có cả triết lý nữa, nhân vật này giống như một thứ chất hỗn hợp. Chỉ có điều đáng tiếc là quá trình hỗn hợp ở đó đang dang dở, chưa hoàn thành. Khi lăn lộn ở “dưới đáy” xã hội, Long không tiếp thu được phần khoẻ mạnh của cuộc sống lao động. Còn như sự học của Long thì cũng nửa vời chắp vá nốt. Bởi vậy, càng có dịp tiếp xúc rộng – nay ở ấp Tiểu Vạn Trường Thành, mai xuống Cảng, ngày kia ra ngõ Sầm Công… – Long càng chán chường, hoang mang, không tìm ra cuộc đời với cái nghĩa lý thật của nó.
“ – Thưa ông, hiện nay tôi có một điều khổ tâm không thể tả được. Tôi khổ lắm, tôi giận thân, giận đời lắm, tôi muốn liều lĩnh làm một điều gì xằng bậy, một điều gì càn dở, chỉ cốt được hả giận mà thôi (…)
– Tư tưởng phá hoại lạ.
– Vâng, chính thế. Tôi chỉ muốn được khổ sở cho nó bõ một thể.
– Ông Long, ông điên mất rồi.
– Thưa ông, chẳng phải tôi không biết như thế là điên đâu. Nhưng không hiểu vì sao tôi muốn điên lắm, không thì không chịu được nữa. Trời ơi, nếu ông có là tôi, thì ông mới hiểu được những nỗi đau đớn của tôi”
Nội dung cả đoạn đối đáp rõ, riêng câu cuối cùng của Long có một ý nghĩa đặc biệt. Nó hé ra cho thấy rằng ở Long cái ý thức về cá nhân đã lên đến cực điểm. Long mạnh, Long khác người vì phần ý thức ấy, nhưng Long cũng lại là nạn nhân của phần ý thức ấy.
Ở chỗ này, Long rất gần Vũ Trọng Phụng.
Có những ngòi bút như Vũ Trọng Phụng trong văn chương vì có không biết bao nhiêu Long trong đời sống. Những điều như Vũ viết ra, như Long nói ra, là cái phần tự ý thức của một lớp người hỗn tạp, táp nham, đau đớn, ê chề, nhưng lại biết suy nghĩ và khổ vì sự bế tắc không lối thoát của mình: lớp dân nghèo thành thị.
*
Do những đặc điểm lịch sử, sự phát triển của chế độ phong kiến ở Việt Nam trải qua nhiều khuất khúc và không thể gọi là mang tính chất điển hình. Ngay vào thuở cực thịnh của chế độ đó, các yếu tố thị dân vẫn là một cái gì phát triển không bình thường. Những người thành thị được gọi bằng cái tên không mấy cảm tình, dân kẻ chợ (và xách mé hơn mà cũng đúng thực chất hơn, dân tứ chiếng). Trong văn học Việt Nam thời phong kiến, và rộng hơn, trong tâm lý phổ biến ở xã hội, trong đời sống tinh thần nói chung bao giờ cũng thấy đầm ấm một tinh thần lạc quan nó là cái đặc tính cố hữu của những người nông dân sống gần thiên nhiên. Một yếu tố bao trùm khác là xu thế ca tụng cái thanh cao, cái trong sạch của cuộc sống nông thôn, ca tụng thú điền viên, bài bác khinh bỉ cuộc sống thành thị, cho là ở đó, nhân tình thế thái điên đảo, đồng tiền làm hư hỏng con người.
Nhưng muốn hay không muốn, thành thị cứ phát triển. Con người kẻ chợ cứ hiện ra rõ nét dần trong văn học, hơn thế nữa, cũng ngày một rõ hơn, mạnh dạn, tự tin hơn là những tiếng nói văn học đại diện cho nếp sống, nếp nghĩ của lớp người kẻ chợ đó. Trong Cung oán ngâm khúc, người ta bắt gặp một triết lý bi quan ở dạng cô đọng; sự kết hợp giữa cung đình và thành thị đẻ ra lối nói kiêu sa pha chút nhục cảm, một thứ nhục cảm mới nẩy nòi, nên còn thô vụng (Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn – Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên ầm ầm). Với Hồ Xuân Hương, các yếu tố nhục cảm được sử dụng một cách khéo léo hơn, đủ sức trêu trọc, chòng ghẹo người ta hơn, nghĩa là được tác giả quan niệm một cách tự nhiên hơn. Cái lý tưởng điền viên kia không có nghĩa lý gì với Hồ Xuân Hương cả. Trong thơ ca của người nữ sĩ sống nhiều ở Hà thành này, nhân vật trữ tình luôn luôn chon von trong một thế đứng đơn độc, mặc dù đang ở giữa mọi người nhưng không sao tìm được sự thông cảm của con người, và nhìn cái gì cũng ra kỳ hình, dị dạng (Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom – Oán hận trông ra khắp mọi chòm – Mõ thẳm không khua mà cũng cốc – Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om). Sự cô đơn cá nhân đó cũng là chỗ gần gũi giữa Hồ Xuân Hương với một người như Trần Tế Xương. Tuy là sống cùng thời nhưng nếu thơ Nguyễn Khuyến đi sát cái nhịp hài hoà bình thản thôn dã và không hề phân vân trong việc tìm lại sự yên tĩnh đã mất thì thơ Tú Xương là tiếng nói trực tiếp của những con người thành thị, với tất cả sự trắng trợn có thể có của nó (Vợ lăm le ở vú, Con tấp tểnh đi bồi…); tiếng nói ấy không ngại chua chát, cay nghiệt khi nói về một cuộc sống đã mất hẳn sự hoà điệu, sự thanh cao mà người ta hằng mong muốn.
Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương không phải những hiện tượng ngoại lệ. Làm nền cho họ là cả một dòng văn học liên tục. Từ dòng văn học đó, từ Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, từ Hoàng Lê nhất thống chí(nhân vật Tuần huyện Trang với câu nói nổi tiếng: – Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu chúa chưa bằng yêu thân mình…) qua các truyện ngắn của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn thời kỳ Nam phong… chúng ta có thể tổng hợp lại để nêu lên một số nét tiêu biểu của các nhân vật thành thị trong văn học Việt Nam:
ở họ, mối quan hệ quân bình với hoàn cảnh mà ta thường bắt gặp trong cả các nhân vật văn nhân hiệp sĩ lẫn người nông dân, mối quan hệ ấy không còn nữa.
Những phẩm chất mà người ta hay ca ngợi – một tấm lòng nhân hậu, một chữ tâm bền bỉ, một thái độ an bần lạc đạo… chỉ còn trong ký ức.
Thay vào đó là một lối sống ích kỷ, một thái độ chính trị hoạt đầu, một chủ nghĩa cá nhân cực đoan.
Dưới sự hướng dẫn của những nguyên lý ấy, họ có lối sống mạnh, gấp gáp. Họ không cần được tiếng khen là chừng mực, thanh nhã. Họ thích những gì mạnh, gắt, đập vào cân não.
Điều kỳ lạ là bất chấp bao nhiêu những bài báo, chê bai từ phía các bậc trí giả, các nhân vật đó vẫn sống, dòng văn học này vẫn có những đại diện của mình và suy cho cùng, gom góp lại, vẫn mang tới cho đời sống văn học những sắc thái mới lạ, cả nền văn học cũng nhờ đó, có thêm sức sống.
Đến Vũ Trọng Phụng, thì cái chất thành thị ấy cũng trở nên đậm đặc, và có thêm những biểu hiện mới. Người ta có thể cắt nghĩa điều này một phần bằng cái hoàn cảnh mà Vũ Trọng Phụng trưởng thành.
Từ một ít phố xá bé nhỏ bao quanh các thành luỹ quân sự trong thời phong kiến qua thời Pháp thuộc. Hà Nội nhanh chóng trở thành một thành phố với phố xá sầm uất hơn, nhà cửa khang trang hơn và nhất là dân cư đông đúc hơn. Đấy chính là một thứ chỗ trũng, thu hút người ở nông thôn ra, trong số đó có những người nghèo không cam tâm chết mòn sau luỹ tre xanh, những người bị đè nén bị oan ức, những người ngày hôm qua còn là những thầy đồ, thầy lang, thậm chí cả lý dịch nữa [1] vì những cơ nhỡ như thế nào đó, rơi tụt xuống cái miệng vực ghê gớm, là thành phố.
Từ nông thôn ra Hà Nội, họ làm đủ nghề, từ con sen thằng ở “cơm thầy cơm cô”, kéo xe, canh cửa, cho tới mở cửa hàng lặt vặt, dạy tư, làm thầy ký ở các hãng buôn. Và cả viết văn viết báo nữa!
Nhà văn mà con nhà nghèo, lớn lên trong sự căm uất lớp người giàu có; nhà văn mà chỉ học đến tiểu học đi làm thuê làm mướn rồi do những tất nhiên ngẫu nhiên như thế nào đó, phá ngang đi viết báo, viết văn – có lẽ không ở nước nào có đội ngũ nhà văn kỳ lạ như vậy. Nhưng đấy là một sự thực.
Chính từ một thực tế như thế, văn học Việt Nam trước 1945 có cái nét mặt bình dân với cả cái hay cái dở của nó, mà đến nay, chúng ta còn chưa gọi ra đầy đủ.
Ở trên, trong khi nói qua về Nguyễn Gia Thiều, chúng tôi đã lưu ý rằng ở tác giả Cung oán ngâm khúc, chất thành thị gắn liền với chất cung đình. Ở cả Hồ Xuân Hương, lẫn Trần Tế Xương, người ta cũng còn luôn luôn bắt gặp những vang bóng của một cuộc sống phong lưu ổn định – một thứ chất trí thức pha chút hiển quý.
Còn Vũ Trọng Phụng?
Chúng tôi không nhắc lại tiểu sử nhà văn ở đây. Chỉ biết rằng không thiếu những cây bút đương thời có hoàn cảnh xuất thân như tác giả Số đỏ: đó là những người làm nghề trí thức đời thứ nhất, trước họ, trong gia đình họ, chưa ai làm nghề này cả, và muốn hiểu họ, phải hiểu cả gốc gác xa xưa của gia đình họ nữa.
Do những điều kiện mà xã hội tư sản mới hình thành mở ra (trong đó có xu hướng dân chủ hoá không cưỡng lại nổi), đây là những dịp đầu tiên mà tầng lớp dân nghèo thành thị có được tiếng nói của mình trong văn học.
Nhưng những con người thành thị mới một hai đời này cũng bộc lộ một sự không thuần nhất đến lộ liễu.
Rời khỏi nông thôn, họ có cái may mắn là cắt đứt khỏi sự trói buộc của hoàn cảnh quen thuộc, một hoàn cảnh vô cùng tù đọng, trì trệ. Cái ngưỡng tự do của họ được rộng mở.







![[Review Sách] “Nhà Giả Kim”: Khi Bạn Quyết Tâm Muốn Điều Gì Thì Cả Vũ Trụ Sẽ Tác Động Để Giúp Bạn Đạt Mục Đích Đó](https://diemsach.info/wp-content/uploads/2020/06/1590237472364-NHÀ-GIẢ-KIM-100x70.png)




