Những kẻ lột mặt nạ thiếu hiểu biết

0
212

Những kẻ lột mặt nạ thiếu hiểu biết

Bronckart J.-P., Bota C. BAKHTINE DEMASQUE: HISTOIRE D’UN MENTEUR, D’UNE ESCROQUERIE ET D’UNDELIRE COLLECTIF. – Geneve: Droz, 2011. – 629p.

                  S. Zenkin

 

 

Vinh quang nào cũng phải trả giá. Một số tác giả vẫn đang được hậu bối tìm đọc và nghiên cứu thể nào cũng chạm trán với thứ phê bình hoạnh hoẹ văn bản, thứ phê bình mà rốt cuộc, nếu không phủ nhận được sự tồn tại về mặt nhân thân của các tác giả ấy, thì chí ít nó cũng phủ nhận sự thống nhất ở trước tác của họ và quyền sở hữu chúng thuộc về một cá nhân. Các nhà ngữ văn Hy Lạp thì cãi nhau rất lâu về “vấn đề Homer”, cánh nghiên cứu ngữ văn Anh Cát Lợi lại không sao dứt ra khỏi những cuộc tranh luận xem ai là người đã viết các vở kịch của Shakespeare, giờ đây cũng đang diễn ra một cái gì tượng tự như thế với Bakhtin.

Gốc gác câu chuyện ai cũng rõ: vào đầu những năm 1970, ít lâu sau khi các công trình lí thuyết mới của Bakhtin được phát hiện, trên báo chí có thông tin, rằng ngoài những văn bản do ông viết (các cuốn sách về Dostoievski và về Rabelais), ông còn là tác giả của mấy cuốn sách và bài báo in vào những năm 1920 – 1930 dưới tên bạn bè, đặc biệt là P.N. Medvedev và V.N. Voloshinov. Có một dạo, đó thực sự là ý kiến áp đảo, nhưng bây giờ con lắc đã xoay chiều: ngày càng thưa vắng những người ủng hộ quan điểm xem các “văn bản còn tranh cãi” đều thuộc bản quyền của Bakhtin; bản thân những văn bản ấy được tái bản và nghiên cứu như những tác phẩm đứng tên các tác giả khi chúng xuất hiện và không thấy hiện diện trong Tổng tập trước tác của Bakhtin[1].

Hai nhà nghiên cứu của Trường Đại học tổng hợp Geneve là J.-P. Bronckart và C. Bota quyết định dấn thêm một bước thế này: họ xuất bản chuyên khảo đồ sộBakhtin bị lột mặt nạ:  câu chuyện về một kẻ lừa dối, một chuyện bịp bợm và một cơn mê sảng tập thể, mục đích của chuyên khảo là tước bỏ từ di sản của Bakhtin ngay cả phần đã được mọi người thừa nhận. Theo kết luận của họ, ngoài việc Bakhtin chẳng dính dáng gì tới các công trình của Voloshinov và Medvedev đã đành (“việc các văn bản đang tranh cãi ngày nay hoàn toàn đã rõ” – tr. 585), ngay cả bản cảo đầu tiên của cuốn sách về Dostoievski (1929) cũng chủ yếu do Voloshinov viết, và có thể, với sự trợ giúp của Medvedev. Không phải Bakhtin chia sẻ tác phẩm của mình cho bạn bè, mà ngược lại, họ đã chia sẻ tác phẩm của họ cho Bakhtin. Huyền thoại “tất cả bản quyền thuộc về Bakhtin” (“Fomni-paternitebakhtinienne”) là “bịa đặt và được dựng đứng vào những năm 1960 (tr. 590) sau khi các tác giả đích thực của “các văn bản còn tranh cãi” đã qua đời được nhiều năm. Huyền thoại ấy là thành quả dối trácố ý của Bakhtin – kẻ đạo văn[2] và trò bịp bợm của đám “tiến dẫn” người Nga là Vj.Vs. Ivanov, V.V. Kozinov và S.G. Bocharov, đó là “những kẻ tiếp tục làm cái công việc vụ lợi, ấy là truyền bá ra thế giới tác phẩm mới được khôi phục của sư phụ” (tr. 237). Ngoài ra, Kozinov và Bocharov còn là đồng tác giả hiển nhiên (tr. 272) của ấn bản lần thứ hai cuốn “Dostoievski” (1963), bởi vì bản thân Bakhtin không còn khả năng hoàn tất bất kì một công việc nào, thêm vào đó, ông không còn khả năng hiểu rõ ý nghĩa quyển sách thứ hai “của mình”, một quyển sách mà thực ra hoàn toàn không phải là của ông. Cuối cùng, sau này, chẳng rõ vì nguyên nhân gì, trò bịp bợm ấy được nhiều nhà nghiên cứu Bakhtin ở các nước khác nhau ủng hộ, họ hè nhau hợp lí hoá huyền thoại “đồng tác giả của Bakhtin” và thế là thực sự sa vào cơn điên rồ tập thể.

Kiểu phê bình Bakhtin gay gắt bằng giọng điệu công kích toát lên từ nhiều trang viết Bronckart và Bota, về mặt nội dung, hoàn toàn không có gì đặc sắc. Con trai của P.N. Medvedev là Iu.P. Medvedev từng cáo buộc (chẳng có bằng chứng gì) những người thừa kế bản quyền tác giả của Bakhtin là S.G. Bocharov và Kozinov, người đã từ trần từ năm 2001, rằng họ đã chiếm đoạt các quyền của Voloshinov và Medvedev[3].  Còn giả thiết về bản quyền tập thể của cuốn Những vấn đề sáng tác của Dostoievsi (1929) cũng đã được V.M. Alpatov đưa ra sớm hơn (nhưng không phải là để trách cứ Bakhtin)[4].  Nhưng vì sao đến nay vẫn chưa một ai phát triển giả thiết này một cách chi tiết thành hẳn một quyển sách như hai tác giả Thuỵ Sĩ đã làm, thì đó lại là chuyện khác. Do đó cần phải đánh giá công trình của họ qua các lập luận và chứng cứ cụ thể mà họ đã dẫn ra. Việc kiểm tra toàn diện như thế cần đến một dung lượng lớn hơn nhiều so với bài bình luận tạp chí, nên chúng tôi chỉ dừng lại ở một số kiến giải chung và minh hoạ bằng một số dẫn chứng.

J.-P Bronckart và C. Bota không làm việc bằng những tư liệu mới. Họ không tìm thấy bất kì một chứng cớ hay văn bản nào đó chưa ai biết, không khảo sát các tài liệu vẫn chưa có ai nghiên cứu. Tuy chê các nhà Bakhtin học đi trước, rằng họ, bằng cách này hay cách khác,  đã đồng loã với “cơn điên rồ tập thể”, nhưng chính hai ông này lại chủ yếu sử dụng các tư liệu thực tế và văn bản do họ sưu tập. Sự thật là – và đây là sự thật rất tiêu biểu – hai ông ấy, trong thực tế, không hề sử dụng (không kể một số tư liệu ít có giá trị) kho bình chú phong phú nhất trong Tổng tập trước tác của M.M. Bakhtin (Moskva, 1997 – 2011) đã nhắc tới ở trên, mà ngày nay đó lại là nền tảng tri thức lịch sử không thể thiếu về tác giả này.

Thiếu sót trên gắn với một đặc điểm bao quát hơn: tuy J.-P. Bronkar và C. Bota có đưa vào thư mục tài liệu tham khảo khổng lồ của mình một số ấn phẩm bằng tiếng Nga, nhưng thực sự họ không bao giờ trích dẫn văn bản từ các ấn phẩm ấy; tất cả các trích dẫn, bao gồm cả trích dẫn Bakhtin và các đồng nghiệp của ông, đều được lấy từ những nguồn trong ngôn ngữ khác. Điều này cho phép giả định, rằng hai tác giả Thuỵ Sĩ không biết tiếng Nga, điều đó, tất nhiên, sẽ khiến cho sự phân tích của họ giảm giá trị: hãy hình dung một nhà cổ văn học không biết tiếng Hy Lạp mà lại cả gan bàn luận về “vấn đề Homer”! Quả vậy, vì buộc phải tin tưởng vào những bản dịch từ tiếng Nga không phải bao giờ cũng chính xác, nên đôi khi họ đưa ra những phỏng đoán cực kì khả nghi. Chẳng hạn, một trong số các đoạn thoại của Bakhtin do V.D. Duvakin ghi năm 1973 – trong nguyên bản, nó chỉ có mấy dòng – được họ trích dẫn, đã phạm ba lỗi nghiêm trọng về mặt ngữ nghĩa[5]. Thứ nhất, trong đoạn trích, Bakhtin đánh giá Vadim Kozinov là “người hoàn toàn vô liêm sỉ” (“une  personne  absolument  sans  scrupuless”), nhưng ở bản gốc lại nói: “ông ta là người tuyệt đối không hề kinh sợ” (tiếng Nga: “Он человек абсолютно бесстрашный”.- ND). Thứ hai: từ “người âm” (tiếng Nga: “минусник”.- ND) mà Bakhtin sử dụng để nói về mình (biệt ngữ hành chính thời Stalin dùng để chỉ người bị đi đày không được cư trú ở một số thành phố lớn – “âm mười”, “âm hai mươi”) được truyền đạt không chính xác, có khuynh hướng chuyển nghĩa thành sự tự đánh giá về sáng tác của bản thân –  “moins que rien”, tức là kém cỏi, chẳng ra gì. Cuối cùng, thứ ba, trong bản dịch, xuất hiện một câu của Bakhtin rất lạ lùng và rất đáng ngờ, đọc là thấy ngay: “Người ta đã quên cuốn sách của ông ấy, cuốn “Dostoievski” (“Ce livre de lui avait ete oublie, le Dostoievski je veux dire…”); vậy cái “ông ấy” ở đây thực ra là ai – nếu không phải là Voloshinov? J.-P. Bronkar và C. Botha bình luận chỗ này một cách áng chừng: “Xin lưu ý, ở đây Bakhtin đã nói một cách không chắc chắn về cuốn sách về Dostoievski, cuốn sách mà bản thân ông rất khó nhận là “của mình”. Thực ra, trong bản gốc, câu này hết sức đơn giản và chẳng có sự bất thường gì: “Người ta đã quên cuốn sách ấy – cuốn “Dostoievski”…”. Chỉ thuần tuý do hiểu sai mà có kiểu lí giải vặn vẹo này.

Còn có những điểm đáng ngờ khác, nghiêm trọng hơn nhiều. Vấn đề là ở chỗ, J.-P. Bronkar và C. Bota hoàn toàn bỏ qua bối cảnh lịch sử, tiểu sử và thể chế của thời đại lúc Bakhtin và các bạn ông đã nói và viết. Giống các dự thẩm viên, khi đối chiếu câu nói này với câu nói kia của Bakhtin về trường hợp “các văn bản còn tranh cãi”, mà thường là nói theo kiểu lảng tránh, họ không hề để ý tới sự đổi thay của thời tiết chính trị, của những người đối thoại, không chú ý tới sự chuyển biến trong điều kiện vật chất, tuổi tác, tình trạng sức khoẻ của tác giả, những thứ khiến ông lúc thì cởi mở, khi thì cẩn trọng, dè chừng (trong nhiều chuyện, chứ chẳng riêng gì chuyện “các văn bản còn tranh cãi”, “người âm” về già này đã  nói năng và hiểu rất rõ sự dè dặt ấy). Họ tuyên bố, ba người “tiến dẫn” Bakhtin là những tên “bợm”, tựa như họ nói về những kẻ ngu si, chẳng có tên tuổi gì, mà không thử tìm hiểu xem (giống như một nhà nghiên cứu tử tế vẫn làm) danh tiếng đạo đức và nghề nghiệp của các nhân vật ấy là thế nào, trong khi đó, chí ít là một nhân vật trong số họ, ông Vj.Vs. Ivanov thì cả thế giới đều biết[6].  Họ gộp ba người “tiến dẫn” vào một nhóm, thành “bộ ba Moskva” (tr. 245), mà bỏ qua sự khác nhau trong quan điểm văn học và tư tưởng giữa họ. Về bối cảnh lịch sử xã hội, họ hình dung, tựa như các vụ trấn áp ở Liên Xô vào cuối những năm 1930 chỉ liên quan tới “nếu không phải hoàn toàn, thì cũng chủ yếu là các đảng viên và cán bộ giảng dạy Mác xít (tr. 33), họ nghĩ một cách ngây ngô rằng, trường Tổng hợp của tỉnh Saransk, thoạt đầu là đại học sư phạm, nơi Bakhtin làm việc vào thời kì 1930 – 1950, không thể có một thư viện tốt (hoặc, nếu tin vào bản dịch của họ, ở đó cũng không có cửa hàng sách nữa)[7], họ nhiều lần khẳng định, rằng trong quan hệ với các bạn Medvedev và Voloshinov, Bakhtin không thể là người lãnh đạo về mặt trí tuệ, vì khác với họ, ông không có bằng đại học[8], không phải là “nhà nghiên cứu già dặn” (“chercheur chevronne”, tr. 293), rõ ràng, họ không hiểu chuyện gì đã xẩy ra ở nước Nga cách mạng, ví như Victor Sklovski, người phản biện của Bakhtin về lí luận văn học, dù chưa học qua đại học, vẫn có thể là thành viên sáng lập của OPOJAZ, ông mưu sinh như một nhà văn và thậm chí, một kẻ mưu phản bất hợp pháp trong quân đội.

Những tài liệu tối quan trọng cần sử dụng để nghiên cứu tiểu sử Bakhtin và vấn đề về “những văn bản còn tranh cãi” đều không lọt được vào tầm ngắm của J.-P. Bronkar và C. Bota: toàn bộ sự việc là ở chỗ: những tư liệu này vẫn chưa được dịch từ tiếng Nga. Các tác giả cuốn sách ám chỉ rằng những “kẻ tiến dẫn” Bakhtin, sau khi tuyên bố bản quyền “các văn bản đang tranh cãi” thuộc về ông, chẳng bao giờ gọi ra các nguồn thông tin của mình. Điều đó không đúng: vào năm 1995, họ đã nêu ra các nguồn thông tin ấy: Vj.Vs, Ivanov viết rằng, ngay từ năm 1956, qua viện sĩ V.V. Vinogradov[9], ông đã biết biết bản quyền đích thực cuốn Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ của Voloshinov, về phần mình, cả V.V. Kozinov cũng khẳng định ông đã nghe đúng như thế (về Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn họccủa Medvedev), và lại cũng là qua Vinogradov, cũng như qua N. Ja. Berkovski và V.B. Sklovski[10]. Có thể P. Bronkar và C. Bota không hề có chút tin tưởng nào đối với Vj.Vs, Ivanov và  V.V. Kozinov, nhưng nhẽ ra phải phê phán chứng cớ của họ, thì hai ông lại ỉm đi những chứng cớ ấy. Các ông cũng hành xử đúng như vậy với hồi kí chưa công bố của O.M. Freidenberg, người biết rõ Voloshinov và cũng khẳng định rằng, “sách ngôn ngữ học” của ông do người khác viết[11]. Freidenberg mất năm 1955, thế tức là chỉ cần một câu của bà cũng đủ bác bỏ sự khẳng định, theo đó hình như “sau lời tuyên bố về tác quyền của Bakhtin do Ivanov loan truyền, không thấy người ta dẫn ra bất kì một bằng chứng nào xuất phát từ giai đoạn đã nêu (1925 – 1970) và xác nhận cho điều đã nói” (tr. 82). Ngược lại, tất cả đều nói lên rằng, lời đồn về “các văn bản còn tranh cãi” từ rất lâu đã loan truyền trong giới văn học hàn lâm và đã được ghi nhận như sự hiểu biết tối thiểu trong tài liệu thống nhất của “giai đoạn đã nêu”. Những lời đồn ấy có thể sai, hoặc đúng, có thể sai một ít và đúng một ít – nhưng hiển nhiên là chúng tồn tại, Bakhtin và đồng nghiệp của ông không bịa ra vào những năm 1960, thế tức là toàn bộ giả thuyết về sự “bịp bợm” bị sụp đổ.

Trong số các thủ pháp lập luận mà P. Bronkar và C. Bota đã sử dụng, cần chỉ ra nhiều chỗ giải thích ác ý, thiếu thiện chí, nhiều kết luận có tính khuynh hướng và nhiều chỗ đánh tráo khái niệm. Khi nói về cuốn Những vấn đề sáng tác của Dostoievski, Bakhtin thừa nhận: “Ấy chết, chẳng lẽ tôi có thể viết ra cuốn sách ấy”[12]. Hai tác giả chuyên khảo đã trích dẫn đoạn hồi kí của S.G. Bocharov theo bản dịch tiếng Pháp[13], trong đó câu trên hiện lên thế này: “Giá tôi có thể viết [cuốn sách ấy] hoàn toàn khác đi so với cuốn đã viết”. Bình luận của hai nhà phê bình: “Đọc một cách sâu sắc, điều đó có thể có nghĩa là Bakhtin không viết cuốn sách ấy”, và so với cách “đọc sâu sắc”, họ thích cách đọc “hời hợt” hơn (dù nó đã được xác định rất rõ bằng ngữ cảnh của phát ngôn), theo đó “ông viết cuốn sách ấy nhưng không giống như cái mà ông muốn viết” (tr. 254). Vào năm 1928, sau khi đọc cuốn Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học của P.N. Medvedev, Boris Pasternak viết thư gửi ông: “Tôi không biết là ông đã dấu trong mình cả một nhà triết học nữa cơ đấy”[14]. Nhận xét này thường được người ta trích dẫn để chứng minh cho tính khác thường của cuốn sách (mà thực ra, người ta nghĩ, do Bakhtin viết) bên cạnh những luận văn khác của Medvedev; nhưng P. Bronkar và C. Bota phản bác: không phải như thế, đó chỉ là lời khen ngợi khuôn sáo, “tôi biết là ông vẫn viết tuyệt vời như vậy” (tr. 67).  Kì thực, nhà thơ không nói về sự tuyệt vời nhiều hay ít, mà nói một cách chính xác hơn và khéo léo hơn về sự khác biệt giữa hai loại diễn ngôn: diễn ngôn của phê bình văn học mà ông bắt gặp trong các công trình trước kia của Medvedev và diễn ngôn triết học mà ông đã nghiên cứu đúng như Bakhtin. Bakhtin nói với S.G. Bocharov rằng ông viết những “văn bản đang tranh cãi” “từ đầu chí cuối”[15], và nói với V.V. Kozinov (về cuốn Phương pháp hình thức) rằng “trước khi nộp bản thảo cho nhà xuất bản, Pavel Nhikolaivich (Medvedev) có bổ sung – nhưng phải nói, rất tệ”[16]. Sau khi trích dẫn hai câu nói trên (tr. 244, 246), P. Bronkar và C. Bota phát hiện, giữa chúng có “sự trái ngược hoàn toàn” (tr. 247): tuồng như, kẻ bịa đặt vô sở cứ thì nói dối lòi đuôi, còn “những kẻ loan truyền điều dối trá của anh ta” (tr. 271) cũng không biết thông đồng sao cho khéo”. Nhưng cứ xét đoán một cách lô gíc, nếu một người đã viết được một văn bản nào đó từ đầu chí cuối, thì tại sao đã vội loại bỏ khả năng, rằng khi ấy, người này có thể sử dụng tư tưởng của người khác, hoặc về sau, thậm chí, có thể đưa cho một người khác nào đó bổ sung?

Có đúng là Bakhtin đã dối trá như thế? Xét đến cùng, Bakhtin có thể buộc phải đưa ra những thông tin giả về tiểu sử (về nguồn gốc xã hội, về học vấn), nhưng về “các văn bản còn tranh cãi”, ông chưa bao giờ tự mâu thuẫn với bản thân và mâu thuẫn với các sự thực mà chúng ta biết rõ. P. Bronkar và C. Bota không có khả năng chứng minh ngược lại: trong lời nói của Bakhtin, chỉ thấy có sự thay đổi của nguyên cố, của cách giải thích các sự kiện (những sự kiện thường xuyên phù hợp với nhau), nhưng chưa bao giờ ông tuyên bố thẳng thừng, rằng ông không viết những văn bản đang tranh cãi, hoặc chỉ viết một mình, không có ai khác tham gia. Mỗi lần, quan điểm của ông đều có sắc thái riêng, tránh sự cứng nhắc đơn nghĩa: đôi khi ông thừa nhận rằng mình là tác giả chính của các văn bản, dù cũng có những đóng góp phần nào vào việc sửa chữa, đôi khi lại chỉ khẳng định về “quan niệm chung trong ngôn ngữ và tác phẩm ngôn từ”[17] khiến cho các văn bản đó khác với các luận văn của riêng ông trong những năm ấy và sự khác biệt giữa chúng với nhau. Sự thực cuối cùng không thể tranh cãi, và P. Bronkar và C. Bota cũng gián tiếp thừa nhận: “…cách tiếp cận của Medvedev giống hệt cách triển khai của Volosinov” (tr. 493). Nhưng vì ở đây đang nói về quan hệ giữa Medvedev và Volosinov với nhau, chứ không phải với Bakhtin, nên các tác giả chuyên khảo không thể vạch trần việc đạo văn hoặc đánh tráo tác giả của họ.

Tuy nhiên, chính sự tương đồng về mặt tư tưởng lại trở thành cái cớ để tranh cãi quyền tác giả của cuốn sách về Dostoievski. Theo J-P Bronkar và C. Bota thì các bạn của Bakhtin đã bắt tay sửa lại những phần nhầm lẫn về mặt tôn giáo thành một tác phẩm cách tân theo hướng lí thuyết khoa học nhân văn, phát triển các nghiên cứu riêng của Voloshinov. Nói gọn lại, “Voloshinov quyết định in phần công trình của ông ta mà lúc đó ông ta đã viết dưới cái tên (của Bakhtin)(tr. 555). Việc xuất bản cuốn sách là nhằm củng cố uy tín của Bakhtin, giảm nhẹ số phận của ông, bởi vì năm 1929 ông đang chờ ra tòa do tham gia nhóm hoạt động tôn giáo ở Leningrad. Đáng tiếc là cái giả thiết ranh mãnh này không khớp với phạm vi thời gian nào cả. Các tác giả của nó muốn cho thấy (từ tr. 271 – 272 và các trang khác) rằng Bakhtin không thể tự mình viết và xuất bản sách của mình, bởi vì vào tháng 12 năm 1928 ông đã bị cảnh sát chính trị bắt, nhưng trên thực tế ông chỉ bị giữ trong mấy ngày, sau đó cho đến ngày ông lên đường đến nơi đi đày vào tháng 2 năm 1930 Bakhtin vẫn sống ở Lenigrad với tờ giấy cam kết không rời khỏi thành phố, và điều đó về căn bản cho phép ông lo liệu việc xuất bản sách của mình[18]. Vì thế mà không đúng khi cho rằng việc xuất bản cuốn sách “rõ ràng do những người khác thực hiện, vì tác giả trên danh nghĩa bị bắt và sau đó bị đi đày.” (tr. 51)[19] Hơn thế nữa, Bakhtin nhớ lại rằng, ông đã viết xong sách trước khi bị bắt, vào năm 1928; bằng chứng này của Bakhtin được hai ác giả nhắc đến như một điều không đáng tin (tr. 267), nhưng nó lại được xác nhân bằng các tư liệu về xuất bản mới tìm ra (năm 1928 Bakhtin kí hợp đồng, trong đó câu cuối cùng nói thời hạn cuối cùng phải nộp bản thảo cho nhà xuất bản được quy định là ngày 15 tháng 10), và đặc biệt ngày đăng bài phê bình đầu tiên của cuốn sách Những vấn đề sáng tác của Dostoievskitrên “Báo văn học” là 10 th&aa

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

16 − one =