Những biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học Nhật Bản đương đại
Mỗi nền văn chương có một chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo của riêng mình. Nếu Hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh chứa đựng tầng sâu của nền văn hóa trùng phức bản địa thì Hiện thực huyền ảo Nhật Bản mang theo chất trữ tình, trực cảm và những yếu tố tâm linh. Phân biệt rành ròi các yếu tố phương Đông và phương Tây, sự ảnh hưởng qua lại của chúng trên tác phẩm kiệt xuất của Akutagawa, Kawabata, Kenzaburo hay Murakami là điều bất khả và cũng không cần thiết. Vẻ đẹp được chưng cất, nỗi đau đớn được thanh lọc, sự xót xa và thanh thản trước cái vô thường… Chứa đựng điều đó là niềm hạnh phúc của văn chương nhân loại. (tóm tắt của BTV)

“Họa vô đơn chí, chuyện rủi thường chất chồng lên nhau”. Vào một ngày đẹp trời, Tôi đột nhiên gặp “những rủi ro” nối tiếp nhau: thất lạc và không gặp được một cô gái đã hẹn, bị đứt nút áo vét tông giữa đường, trên tàu điện lại gặp người quen chẳng muốn gặp, cái răng đau lại bắt đầu hành hạ, mưa lại bắt đầu rơi. Lên taxi thì bị nghẽn đường. Trên taxi, lại một sự việc kỳ quái khác: anh tài xế nói rằng, anh ta là quỷ hút máu người.
Đó là đoạn mở đầu truyện ngắn Quỷ hút máu trên xe taxi của Haruki Murakami. Một tựa đề hứa hẹn chất huyền ảo liêu trai nhưng câu chuyện lại được kể bằng một giọng văn bình thản và hài hước rất ấn tượng. Sự chờ đợi của độc giả về một cảnh máu me trên taxi sẽ không diễn ra; bởi kết thúc truyện dường như vô can với sự kiện, hoặc giả như lấp lửng che giấu. Phải nói rằng, những truyện ngắn theo kiểu hiện thực huyền ảo của Murakami bao giờ cũng dừng lại bằng cái kết không phải là kết. Biệt tài của Murakami là khiến người đọc không yên sau dòng chữ cuối cùng. Thường thì người đọc sẽ luyến tiếc và trách ông kiệm lời, trách ông bỏ rơi độc giả ở chỗ lưỡng lự. Thế nhưng, nhờ cái kết hụt bí ẩn, Murakami chứng tỏ là một người kể chuyện tài năng.
Quỷ hút máu trên xe taxi là một trong số những truyện ngắn mang màu sắc huyền ảo hoặc giả huyền ảo của ông. Khó có thể phủ nhận, H. Murakami đa phong cách: Ông biết pha chế chất hiện thực, chất trinh thám, chất kinh dị, và chất huyền ảo trên nhiều sáng tác của mình. Ở mỗi tác phẩm, Murakami biến hóa linh hoạt bằng nhiều thủ pháp, nhưng trong đó, chất huyền ảo hầu như có mặt trong tác phẩm ông. Rừng Na Uy là một trong số ít cuốn tiểu thuyết theo phong cách Hiện thực chủ nghĩa. Ngoài bản tình ca bất hủ này, tiểu thuyết hoặc truyện ngắn của Murakami thường xuất hiện trong dáng dấp hư cấu và huyền thoại, chẳng hạn Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và nơi tận cùng thế giới, Kafka bên bờ biển, Người tình Sputnik hay truyện ngắn Người đàn ông băng, Quỷ hút máu trên xe taxi, Đốt nhà kho…. Mitsuyoshi Numono, nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng, thành công của Murakami chính là ở cách ông sử dụng tốt liều lượng giữa thực và ảo. Sự đan xen thích hợp này khiến tác phẩm Murakami không quá đời thường, đồng thời cũng chẳng quá hoang đường. Một khoảng cách đối với hiện thực được duy trì đã tạo nên khoảng cách thẩm mỹ độc đáo trên tác phẩm ông.
Ngoài Murakami, những nhà văn Nhật Bản trước và sau ông đều không lạ lẫm với lối viết: biến cái ảo thành thực và biến cái thực thành ảo. Từ Akutagawa, Y. Kawabata, Abe Kobo, Kenzaburo Oe… đến Yoshimoto Banana, Ikezawa Natsuki, Ogawa Yoko hay Masatsugu Ono về sau, tác phẩm của họ ít nhiều đều mang đến những hiện thực nằm-ngoài-hiện thực, hiện thực thuộc về miền đất mơ tưởng, miền đất tâm linh. Có thể nói, thủ pháp Hiện thực huyền ảo đã trở thành một kinh nghiệm thẩm mỹ của văn học xứ sở này.
NHỮNG BIỂU HIỆN
Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo vốn được xem như thành tựu của văn học Mỹ Latinh, trải dài từ thập niên 40 cho đến thập niên 60 – 70 của thế kỷ qua. Chín muồi nhất của Hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh là những nhà văn được mệnh danh thế hệ Boom (bùng nổ) với những kiệt tác. Với G. Marquez, Carlos Fuentes, Julio Cortazar và Vargas Llosa – bốn tác giả đại diện cho thế hệ trưởng thành và bùng nổ, trào lưu này đã chứng tỏ “bản quyền” của mình về cái gọi là chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh. Cùng thời điểm đó, ở phương Đông, đặc biệt là Nhật Bản cũng xuất hiện sớm những thủ pháp đan bện thực và ảo, tạo nên cảm giác về sự mơ hồ bí ẩn, sự lưỡng lự trong đoán định của người đọc. Như một hệ quả của thời đại có quá nhiều sự thay đổi, thời đại của chiến tranh thế giới, của sự sống mong manh và niềm tin bị mai một, chất cảm tính và mơ hồ bắt đầu trội lên và thống lĩnh đời sống lẫn nghệ thuật. Chất huyền ảo thay thế cho tư duy lý tính đang đến hồi suy vong. Henri Benac trong Dẫn giải ý tưởng văn chương cho rằng, văn học mang tính chất huyền ảo là một “sự phản ứng lại chủ nghĩa duy lý đang lan tràn trong nghệ thuật”, là “sự tò mò của con người trước các lãnh địa cấm của lý trí và nhận thức khoa học”, là “sự rối loạn nội tâm về ý thức lẫn vô thức của nhà văn” [1].
Hơn nữa, trong sự biến đổi không ngừng của thế giới, khoa học càng phát triển thì càng thừa nhận sự bất lực trước những lĩnh vực thuộc về tâm linh và siêu hình. Văn chương huyền ảo như bù đắp cho thiếu hụt đó, chạm vào cái giếng sâu thiêng liêng và huyền bí của con người và siêu nhiên. Sự hỗn độn và phi lý của cuộc nhân sinh diễn ra vào đầu thế kỷ XX lại là một may mắn giúp văn chương phát hiện thế giới trong những chiều kích mới. Cái thực không còn giống như cái thực vốn quen nhìn. Và cái ảo không còn là cái xa lạ, vô lý. Sự hoài nghi và lưỡng lự đẩy con người đến nhanh với sáng tác của cái ảo, chấp nhận cái ảo như mặt thứ hai của cuộc sống.
Từ thập niên 30, 40 của thế kỷ XX, tính mơ hồ, siêu thực đã lan tỏa trên các sáng tác phương Tây lẫn phương Đông. Tác phẩm mang yếu tố huyền ảo của Akutagawa, Y. Kawabata hay Abe Kobo có thể nói là đồng thời, một vài tác phẩm trước cả thế hệ Boom (bùng nổ) của Mỹ Latinh. Chỉ có điều, sáng tác của các nhà văn Nhật Bản không tạo thành một trào lưu mạnh mẽ bằng cách xuất hiện đồng loạt trên văn đàn. Các nhà văn Nhật không tập hợp dưới một ngọn cờ, họ nổ lực xây dựng những trường phái khác nhau. Y. Kawabata theo đuổi trường phái Tân cảm giác, trong khi nhà văn sau ông, Abe Kobo theo đuổi chủ nghĩa hiện đại. Các nhà văn Nhật dùng chất hiện thực và huyền ảo như là một trong những thủ pháp làm mới văn chương. Dẫu không trường phái và tuyên ngôn, điểm chung của những cây bút này là tìm kiếm lối viết thực ảo đan xen, chống lại cái khô cứng của đời sống. Chúng tôi tạm gọi đó là biểu hiện của chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo. Một Hiện thực huyền ảo kiểu Nhật Bản.
Càng về nửa sau thế kỷ XX, sự giao lưu văn học càng mở rộng khiến phương thức sáng tác này vượt qua biên giới các châu lục và tác động lẫn nhau. Nhật Bản trở thành trường hợp điển hình của phương Đông, đáp lễ với văn học huyền ảo thế giới bằng những sáng tác giá trị. Các nhà văn xứ sở hoa anh đào tái tạo lại cấu trúc trần thuật huyền ảo trong những chủ đề và ẩn nghĩa phương Đông. Những nhà văn đi sau mở một lối huyền ảo theo cách khác. Nhìn chung, văn chương Nhật pha lẫn cái huyền ảo vào cảm thức đặc biệt của dân tộc mình: mononoaware và okashi. Chính cái phong vị Nhật Bản – nỗi buồn cô độc, sự bi cảm tĩnh lặng và sự hài hước thanh nhã đã khiến văn học Phù Tang góp một kiểu Hiện thực huyền ảo mới.
NGƯỢC DÒNG VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
Từ lâu trong văn học cổ và trung đại Nhật Bản, chất truyền kỳ, kỳ ảo đã sớm hiện diện ở nhiều sáng tác mà TruyệnGenji là một ví dụ. Thơ ca, tiểu thuyết và tùy bút Nhật Bản đều phủ lên những yếu tố hư cấu rất tinh tế. Nền văn học Nhật Bản sớm đã bộc lộ khuynh hướng phi logic, phi trừu tượng hóa và phi hệ thống hóa. Sở trường của nền văn học này có lẽ là cảm tính, trữ tình và ảo diệu.
Chikamatsu từng phát biểu về sân khấu rối bunraku và nghệ thuật nói chung: “Nghệ thuật là cái gì đó nằm trên mép bờ mong manh giữa thực và ảo… Nó là ảo, song cũng chẳng phải là ảo; nó là thực, song cũng chẳng phải là thực. Niềm vui nằm giữa hai điều đó” [2].
Bước sang thế kỷ XX, Akutagawa Ryunosuke (1892 – 1927) là một trong những nhà văn tạo nên truyện ngắn đạt đến độ hoàn thiện về “nỗi bất an mơ hồ”. Akutagawa cho thấy sự rã rời và đau đớn mênh mông trong cái dự cảm về sự sụp đổ của đế chế Nhật Bản, sự diệt vong của chiến tranh bằng chất huyền ảo. Ông là một trong những nhà văn lấy đề tài đa dạng từ trong văn học cổ Nhật Bản và Trung Quốc. Tác phẩm của ông trở về truyền thuyết nhưng miêu tả tâm lý một cách hiện đại, pha trộn giữa hiện thực và huyền ảo. Akutagawa đã sáng tạo những truyện ngắn độc đáo như Cái mũi, Mộng mị, Trong rừng trúc hay Xã hội thủy quái Kappa. Với Kappa, Akutagawa được nhà văn Argentina sau này – Jorge Luis Borges đánh giá như một đại diện cho chân dung Nhật Bản. Với Kappa, Akutagawa đã mơ tưởng ra một thế giới “phi nhân gian”. Hình ảnh phi thực của loài thủy quái giống như thế giới của loài chim cánh cụt trong tác phẩm của Anatole France, hay thế giới những người tí hon trong tiểu thuyết của Jonathan Swift. Đây là trích đoạn một cảnh huyền ảo hài hước bậc nhất:
Dưới cái nhìn của loài người chúng ta thì thật không gì kỳ quái hơn là cảnh tượng sinh nở ở xứ Kappa. Lúc Kappa sắp sinh ra, ông bố châu mồm vào chỗ kín của bà vợ như đang nói điện thoại, to giọng hỏi rằng: “Thế con có muốn ra đời không? Nghĩ cho kỹ rồi hãy trả lời nhé!”. Ông Bag khom gối, hỏi đi hỏi lại nhiều lần như thế. Một chốc, coi bộ đứa bé trong bụng vợ của Bag có vẻ do dự rồi thấy nó lí nhí trả lời: “Con không muốn ra đời làm gì. Nhất là để mang chứng bệnh tâm thần di truyền từ bố thì khổ lắm! Hơn nữa, giống Kappa sinh ra không biết để làm chi?” Bag nghe câu trả lời, bẽn lẽn đưa tay lên gãi đầu. Tức thì, bà đỡ đứng chực sẵn bên đã cầm ngay một ống thủy tinh đút vào chỗ kín của bà vợ, như thể chích một thứ thuốc gì đấy. Chỉ thấy bà ta thở phào một cái như trút đi gánh nặng, đồng thời cái bụng xìu xuống tựa như quả bong bong vừa trút hết hơi” [Trích theo tài liệu 3].
Ở xã hội thủy quái này, những gì hài hước đều trở nên nghiêm trọng và những gì nghiêm trọng hóa ra hài hước. Đằng sau nụ cười, lẽ nào cuộc sinh nở này không mang một ý nghĩa hiện sinh? Không giống Kappa, sự chào đời của con người không bao giờ có quyền lựa chọn?
Từ một loại thủy quái quen thuộc trong truyền thuyết Nhật Bản, Akutagawa đã suy ngẫm về thế thái nhân tình của thời đại ông, đồng thời mơ tưởng một xứ sở kỳ diệu mới. Người ta cho rằng Akutagawa quá mẫn cảm, thậm chí yếm thế và bi quan trong cuộc đời này, nhưng chính ông nhận ra rất sớm rằng, thế giới thường nhật và thế giới thẩm mỹ vốn tan chảy vào nhau. Mộng mị hay thực tại thẩy đều quyện lại, mang chứa nỗi buồn vô vọng và vô thường. Các sáng tác của Akutagawa, từ Trong rừng trúc, La Sinh Môn đến Ảo ảnh cuộc đời, cuối cùng chỉ còn câu hỏi đọng lại: Đâu là sự thật? Có bao nhiêu sự thật ở đời? Và nghệ thuật, đó là sự cứu rỗi hay là nỗi bất lực của con người?
Như một cách khước từ đời sống, khước từ cả số phận mình, Akutagawa đã tự ly khai hiện thực, kết thúc 35 năm dương thế bằng những viên thuốc ngủ.
Ngoài Akutagawa, một đại diện khác cho bút pháp kỳ ảo cổ điển được kể đến là Yasunari Kawabata (1899 – 1972), người đoạt Nobel văn học năm 1968. Sáng tác của Kawabata cũng chứa đựng nhiều yếu tố huyễn tưởng, nhưng chất siêu thực của ông đậm sắc thái Thiền tông và cảm thức thẩm mỹ phương Đông.
Giống và khác với Akutagawa, yếu tố huyền ảo trong tác phẩm Y. Kawabata thường là chiếc mặt nạ, cái chết, sự vật được nhân hóa, sức mạnh siêu nhiên và những giấc mơ. Chủ đề mà Kawabata hướng đến là cái đẹp tế vi trong cõi phù sinh, gây choáng động lòng người. Truyện ngắn Bất tử của Kawabata tập trung chủ đề ở cuộc tình say đắm giữa ông lão và cô gái chênh nhau đến 65 tuổi. Trên con đường tình tự, họ đã đi xuyên qua tấm lưới, xuyên qua thân cây rồi biến mất trong cây. Họ trở thành người tình bất tử của nhau. Mượn sự kỳ ảo để tuyệt đối và lý tưởng hóa tình yêu là điều mà Kawabata suốt đời khao khát. Mặt nạ cho người chết, Người đàn ông không cười… cũng là những truyện ngắn sử dụng những chi tiết kỳ ảo rất đắc địa. Đặc biệt, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá Cánh tay như là một trong những truyện ngắn lạ thường nhất của thế giới. Đó là một huyền thoại tân kỳ được Kawabata lấy chất liệu từ ảo ảnh và vô thức [4].
Chất huyền ảo, huyễn hoặc có lẽ là nơi thể hiện rõ nhất phong cách tài hoa và duy mỹ của Kawabata.
Trong khi Kawabata bị ám ảnh bởi hình tượng người phụ nữ trong nối kết với tình yêu – cái đẹp và sự vĩnh cửu, thì Abe Kobo (1924 – 1993) sử dụng cái huyền ảo để xoáy sâu vào cảm giác vô lý, phi lý của cuộc sinh tồn. Abe Kobo là thế hệ nhà văn cố gắng tách ra khỏi văn học cổ điển Nhật Bản. Như chính Kobo phát biểu: ông gần gũi với các nhà văn phương Tây hơn, trong đó đặc biệt là Franz Kafka và Garcia Marquez. Những tác phẩm như Người đàn bà trong cồn cát hay Khuôn mặt người khác cho thấy rất rõ sự hiện sinh phi lý và nhọc nhằn của con người. Thế nhưng, phi lý và nhọc nhằn chính là ý nghĩa của cuộc đời này. Khoét sâu vào những vô lý của cuộc sinh tồn, phong cách hiện thực huyền ảo của Abe Kobo thường được so sánh với Franz Kafka trong văn học thế kỷ XX. Tài năng của Kobo là dựng lên một thế giới chỉ có cát và cát, con người sống trong cát, ngủ vùi trong cát, xúc cát mỗi ngày để bới lên sự sống của mình.
Nếu Kafka dựng một lâu đài bí ẩn khiến K. hoang man và lạc lối thì Abe Kobo tạc một cồn cát vừa thực vừa ảo, vừa gần vừa xa, như một nhân gian thu nhỏ khiến con người bất hạnh lẫn hạnh phúc. Nơi đó, con người đã đến không chủ đích, nhưng rồi, họ đã ở lại, chấp nhận và sống với số phận của mình. Bản đồ cháy rụi, Người đàn ông trong chiếc hộp cũng không ít chi tiết huyền ảo khắc họa bản chất của cuộc hiện sinh. Vì những thí nghiệm mang tính huyền hoặc này, Abe Kobo được một số nhà nghiên cứu xếp vào dòng văn chương khoa học giả tưởng. Thực chất, ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và huyễn tưởng, giữa phân tích tâm lý tinh tế và những suy tưởng giàu triết lý. Kenzaburo Oe – tác giả của Nobel 1994 đã nhận định xác đáng về Abe Kobo rằng: “Ông sáng tác với ý thức tách khỏi truyền thống Nhật Bản, tuy gắn bó với việc xây dựng thế giới ảo tưởng, nhưng vẫn in đậm một lối nhìn riêng tư mà nghiêm túc về đời sống hiện đại”.
TRỞ LẠI VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI
Kế thừa lối viết ảo diệu của các tiền bối thời chiến và hậu chiến, các nhà văn Nhật Bản nửa sau thế kỷ XX tiếp tục mở những lối đi mới về hiện thực.
Một trong những nổ lực ấy là Kenzaburo Oe. Với giải Nobel văn học năm 1994, ông được Viện Hàn Lâm Thụy Điển đánh giá cao văn tài ở sự “sáng tạo thế giới kỳ ảo, hội tụ cuộc







![[Review Sách] “Nhà Giả Kim”: Khi Bạn Quyết Tâm Muốn Điều Gì Thì Cả Vũ Trụ Sẽ Tác Động Để Giúp Bạn Đạt Mục Đích Đó](https://diemsach.info/wp-content/uploads/2020/06/1590237472364-NHÀ-GIẢ-KIM-100x70.png)


![[Tóm Tắt & Review Sách] “Không Gục Ngã”: Khi Con Người Học Cách Đứng Dậy Từ Tận Cùng Số Phận](https://diemsach.info/wp-content/uploads/2026/05/1778570668982-1-100x70.png)
