10 tác giả viết về Thiền: “Đọc để giúp bạn sống An bình và Thành công hơn”

0
1050
10 tác giả viết về Thiền: “Đọc để giúp bạn sống An bình và Thành công hơn”
 
Thiền ngày nay đã không còn là một khái niệm xa lạ đối với nhiều người. Bước ra ngoài khuôn khổ của sự tu hành, thiền giờ đây được đông đảo mọi người đón nhận và thực tập như một phương pháp để giải tỏa căng thẳng, tìm lại sự an ổn trong tâm hồn.
 
Minh sư Patriji của Ấn Độ trong chuyến viếng thăm gần đây tại Việt Nam cũng từng có nhận xét rằng: “Thiền là cách duy nhất chữa lành mọi bệnh tật”. 
Trong bài viết này xin giới thiệu đến độc giả 10 tác giả đã cho xuất bản khá nhiều sách về Thiền và kỹ năng sống. Họ có thể là Thiền sư, Minh sư hoặc chỉ là Phật tử tu hành theo Thiền. Hy vọng những tựa sách này có thề giúp bạn có một cuộc sống hỷ lạc, anh bình và thành công hơn trong năm mới.

 

1. Thích Nhất Hạnh (Việt Nam)

 
Thích Nhất Hạnh (tên khai sinh Nguyễn Xuân Bảo, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1926) là một thiền sư, giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội, và người vận động cho hòa bình người Việt Nam.
Ông sinh ra ở Thừa Thiên-Huế, miền Trung Việt Nam, xuất gia theo Thiền tông vào năm 16 tuổi, trở thành một nhà sư vào năm 1949. Năm 1973 khi hiệp định Paris được ký kết, ông bị cấm về Việt Nam và ở lại Pháp từ đó đến nay.
Thích Nhất Hạnh là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây chỉ sau Đạt-lại Lạt-ma.[2][3] Ông là người đưa ra khái niệm “Phật giáo dấn thân” (Engaged Buddhism) trong cuốn sách Vietnam: Lotus in a Sea of Fire của ông.
Thích Nhất Hạnh đã viết hơn 100 cuốn sách, trong số đó hơn 40 cuốn bằng tiếng Anh. Ông là người vận động cho phong trào hòa bình, với các giải pháp không bạo lực cho các mâu thuẫn.

 

2. Minh Niệm (Việt Nam)

 
Thiền sư Minh Niệm tên thật là Lê Quốc Triều. Sinh năm 1975, tại Châu Thành, Tiền Giang. Năm 1992, ông xuất gia và nghiên cứu tư tưởng Phật giáo Đại thừa tại Phật học viện Huệ Nghiêm (TP.HCM). Năm 2001, ông bắt đầu thực hành Thiền của truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, thọ giáo qua hai vị thiền sư lớn Thích Nhất Hạnh (tại Pháp) và Sao Tajaneya (tại Mỹ).
Nhà sư này cho ra đời cuốn sách đầu tay, Hiểu Về Trái Tim vào năm 2010 được đông đảo giới trẻ quan tâm và bình chọn là cuốn sách được yêu thích nhất năm 2013 do Fahasa tổ chức.
Năm 2011, ông lên đường “tu bụi”, đi bộ và đi nhờ xe qua 25 tiểu bang nước Mỹ suốt ba năm để thử sức với hoàn cảnh khắc nghiệt. Về nước năm 2015, ông sáng lập Trung tâm Hàm dưỡng Tâm hồn và Rèn luyện Kỹ năng sống, gọi tắt là Bản Hoa Anh Đào, tại Bảo Lộc, Lâm Đồng. Đến nay, tác giả Minh Niệm vẫn tiếp tục dạy thiền và tâm lý trị liệu trong và ngoài nước.

 

3. Đạt Lại Lạt Ma XIV (Tây Tạng)

 
Đăng-châu Gia-mục-thố là tên của Đạt-lại Lạt-ma thứ 14, là nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của nhân dân Tây Tạng. Theo công trình nghiên cứu cá nhân vừa qua của giáo sư Eric Sharp thuộc Đại học Sydney, Úc thì trong số những thánh nhân của thế kỷ thứ 20 này, có ba thánh nhân người châu Á, đó là cố thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (1861-1941), Mahātma Gandhi (1869-1948) và chính vị Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 này.
Đức Đạt-lại Lạt-ma được xem là hóa thân của vị Đạt-lại Lạt-ma Tây Tạng thứ 13 tiền nhiệm (vị đầu tiên sinh năm 1351) được xem là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, là Bồ-tát của lòng Từ bi vô lượng, còn được gọi là Liên Hoa Thủ Bồ-tát (vị Bồ-tát tay cầm hoa sen trắng). Thực vậy, nếu tìm về 14 đời trước nữa, thì Đạt-lại Lạt-ma là một chú bé thuộc dòng dõi Bà-la-môn sống vào thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. “Người ta thường hỏi tôi có thực tin như vậy hay không? Câu trả lời không giản đơn tí nào. Nhưng nay với tuổi 56, khi tôi đã quan sát được những kinh nghiệm từ cuộc sống đã cho tôi một niềm tin Phật pháp sâu sắc, tôi tin tưởng một cách dễ dàng rằng tôi có liên hệ tâm linh với 13 vị Đạt-lại Lạt-ma tiền nhiệm, với Bồ Tát Quán Thế Âm và với Đức Phật nữa”.

 

4. Hae Min (Hàn Quốc)

 
Đại đức Hae Min sinh ra và lớn lên tại Hàn Quốc. Sau khi hoàn thành bằng Thạc sĩ Tôn giáo học đối chiếu ở Đại học Havard và Tiến sĩ Tôn giáo học ở Đại học Princeton, ông ở lại Mỹ tham gia giảng dạy về tôn giáo ở trường Đại học Hampshire, Massachusetts. Không chỉ dừng lại ở nghiên cứu lý thuyết, mùa xuân năm 2000 ông quyết định xuất gia theo tông phái Tào Khê, một tông phái tiêu biểu của Phật giáo Hàn Quốc.
Năm 2015, Đại đức Hae Min trở về Seoul, cùng nhiều chuyên gia mở trường Trị liệu tâm hồn, điều trị miễn phí cho những người gặp bất hạnh trong cuộc sống hay đang mang trong lòng nhiều khổ tâm. Đại đức Haemin là một trong những người rất có ảnh hưởng tới giới trẻ Hàn Quốc, trang Twitter cá nhân của ông hiện có tới hơn một triệu người theo dõi.
Tại Việt Nam, Nhã Nam đã phát hành quyển sách đầu tiên của ông mang tên Bước chậm lại giữa thế gian vội vã (nguyên tác: The Things You Can See Only When You Slow Down: How to be Calm in a Busy World) đã được độc giả Việt nhiệt liệt đón nhận. Ngoài ra ông những tác phẩm khác như: Những vỡ lẽ của tuổi trẻ, Yêu lấy những điều không hoàn hảo.

 

5. Bạch Lạc Mai (Trung Quốc)

 
Bạch Lạc Mai tên thật là Tư Trí Tuệ, sống ở Giang Nam, đơn giản tự chủ, tâm như lan thảo, văn chương thanh đạm. Những tác phẩm đã xuất bản: Hết thảy gặp gỡ trên thế gian đều là cửu biệt trùng phùng; Hận không gặp nhau khi chưa xuống tóc; Gió Tây thổi biết bao nhiêu hận thổi chẳng tan nét mày cong; Gặp gỡ nơi hồng trần sâu nhất; Nếu em bình an, đó là ngày nắng; Bởi vì thấu hiểu, cho nên từ bi…
Khí chất bình thản nhất, ngôn ngữ thích hợp nhất, “Ẩn thế tài nữ” Bạch Lạc Mai trong tác phẩm “Bởi vì thấu hiểu cho nên từ bi” đã viết lại những năm tháng khuynh thành truyền kì nhất, cô quạnh nhất và chân thực nhất của “Tuyệt đỉnh tài nữ” Trương Ái Linh trong thế kỷ 20.
Những tựa sách của Bạch Lạc Mai thường hướng độc giả đến cuộc sống thanh đạm, nhẹ nhàng và yên bình. Cô luôn đưa ra những cách giải quyết vấn đề theo hướng tịnh tâm như uống trà, thưởng nguyệt, ngắm nhìn cuộc đời trôi qua một cách nhẹ nhàng, thong thả ngay cả trong tình yêu. Yêu một người có lẽ chỉ trong chớp mắt, quên một người lại có thể cần cả cuộc đời. Biết rõ như thế, nhưng nhiều người vẫn phải yêu. Thậm chí ngàn dặm xa xôi truy tìm tình yêu, muốn kết một đoạn tình duyên trong kiếp này, để tuổi xuân không hối, đời người không tiếc. Đây chính là thông điệp mà tác giả Bạch Lạc Mai đã gửi đến đến độc giả thông qua cuốn sách Duyên.
Mọi sự gặp gỡ trên thế gian đều là cửu biệt trùng phùng – tên gốc của cuốn sách đã được gói gọn trong một chữ Duyên tinh tế mà sâu sắc. Giống như những cuốn sách của Bạch Lạc Mai, Duyên vẫn mang chiều sâu khiến người đọc phải ngẫm nghĩ và cảm nhận từng chút một.

 

6. Minh sư Patriji (Ấn Độ)

 
Minh sư Patriji là người sáng lập Phong trào thiền Kim Tự Tháp đã đến khắp mọi miền đất nước Ấn Độ và nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam, để chia sẻ những thông điệp về Thiền Anapanasati, chủ nghĩa Ăn thực vật và Năng lượng Kim Tự Tháp. Trong khuôn khổ của tập sách nhỏ này, Minh sư cho chúng ta kiến thức về những lợi ích của thiền định và phương pháp thực hành thiền Anapanasati do chính ông truyền thụ. Phương pháp thực hành thiền này rất đơn giản vì không yêu cầu người thực hành phải ngồi ở tư thế hoa sen hay bán hoa sen, chỉ cần đan tay, nhắm mắt, tập trung sự chú ý vào hơi thở và để mặc tâm trí… Việc sử dụng năng lượng Kim Tự Tháp hoặc âm thanh tiếng sáo thiền của Minh sư Patriji cũng được khuyến khích để hỗ trợ thiền định trong phương pháp này.
Minh sư Patriji, tên thật là Subhash Patriji (SN 1947 tại Ấn Độ), là người nổi tiếng trên toàn thế giới bởi công cuộc đem thiền đến với cộng đồng nhằm mang lại sự tỉnh thức sâu sắc cho các cá nhân về khoa học thiền định – một phương pháp để đạt được sức khỏe thể chất – tinh thần – trí tuệ và sự hạnh phúc.
Minh sư Patriji là người sáng lập, giữ vai trò chính của tổ chức “Hoạt động đoàn thể tâm thức Kim Tự Tháp Ấn Độ – The Pyramid Spiritual Societies Movement” viết tắt là PSSM. Ông là tác giả của hơn 60 cuốn sách và nhiều sản phẩm băng đĩa về các chủ đề khoa học tâm linh đương đại.
Sách của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng và là nguồn cảm hứng của nhiều cuốn sách, tạp chí và phim ảnh về lĩnh vực khoa học này. Năm 2006, Minh sư Patriji được vinh dự trao giải thưởng cống hiến trọn đời do Viện Mahamat Gandi trao tặng.
Minh sư Patriji có duyên với thiền một cách rất tự nhiên. Sau khi hoàn thành học vị thạc sĩ về khoa học đất đai vào năm 1974, ông làm việc tại một công y phân bón và thực hành thiền định. Sau những trải nghiệm sâu sắc trong thiền định, Minh sư Patriji dừng công việc tại công ty vào năm 1992 và bắt đầu công cuộc phục vụ cho nhân loại, với nguyện vọng phổ biến những phương pháp thực hành đánh thức và phát triển những nội lực sẵn có của con người: Tình yêu không điều kiện – bình an – hợp nhất. (Nguồn: congan.com.vn)
 
7. Osho (Ấn Độ)
Osho (1931-1990) là một vị đạo sư hết sức kỳ lạ của thế kỷ hai mươi. Tên thật của ông là Rajneesh Chandra Mohan Jain. Khoảng trong thập kỷ 70 người ta biết đến ông với tên Bhagwan Shree Rajneesh. Tháng 2 năm 1989, ông tự đổi tên là Osho. Osho vốn là danh xưng tiếng Nhật Bản cổ, có nghĩa là “đạo sư” của một dòng Thiền. Tác phẩm bạn đọc đang cầm trên tay, Cuộc đời của luận sư Rajneesh Chandra, kể lại cuộc đời lạ lùng và quan niệm của ông về nhiều vấn đề, thế tục cũng như tâm linh.
Osho để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ với hàng trăm cuốn sách và vô số các bài thuyết giảng. Ông là một người gây nên rất nhiều tranh cãi trong số những ai quan tâm đến triết học phương Đông, trong giới những người tầm cầu tôn giáo và đạo sư. Có thể nói, ông là một trong những người gây phân hoá cùng cực nhất về mặt đạo lý, nhưng cũng là người có sức thu hút mạnh mẽ nhất trong các bài giảng về tôn giáo và triết học. Nhưng có lẽ điều này nằm trong ý đồ đích thực của một con người “nổi loạn” như ông.
Nhân cách của Osho có một sức thu hút mãnh liệt, nó biểu hiện trong những bài luận giải xuất chúng của ông về mọi vấn đề tôn giáo và triết học, kể cả về các bộ kinh lâu đời nhất mà nhiều vị luận sư đã dày công trình bày. Những ai đã gặp ông đều thừa nhận Osho có một tài hùng biện đầy ma lực, một sự hấp dẫn cá nhân mà người nghe hầu như không thể cưỡng lại. Song song với những công trình luận giải vĩ đại đó thì tập thể quần chúng và đệ tử do ông hướng dẫn lại gây nên rất nhiều tai tiếng, thậm chí có kẻ trở thành tội phạm. (Nguồn: chungta.com)

 

8. Pháp Vương Gyalwang Drukpa (Ấn Độ)

 
Gyalwang Drukpa là người đứng đầu dòng Truyền thừa Drukpa, còn được biết đến dưới tên gọi Truyền thừa Rồng Thiêng. Gyalwang Drukpa hiện thời là Jigme Pema Wangchen, sinh ra tại thánh địa Hồ Liên Hoa Tso Pema, nơi từng là Vương quốc Zahor thuộc bang Himachal Pradesh (Ấn Độ).
Đức Gyalwang Drukpa hiện đời là lãnh đạo tối thượng và hóa thân chuyển thế đời thứ XII của sáng lập Truyền thừa Phật giáo Đại thừa – Kim cương thừa Drukpa, Gyalwang Drukpa đời thứ I Drogon Tsangpa Gyare. (Nguồn: WikiPedia)
Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa sinh năm 1963 trong một gia đình hành giả Kim cương thừa có dòng dõi tôn quý. Phụ thân Ngài, Đức Kyabje Bairo Rinpoche là một trong những bậc nắm giữ truyền thừa Katok và cũng là hóa thân đời thứ 36 của Đại Thượng sư và Đại dịch giả trứ danh nhất truyền thống Kim cương thừa là Đức Vairotsana. Thân mẫu Ngài là bà Mayum-la Konchok Pema thuộc dòng dõi Thượng sư Nyadak Nyang vĩ đại.
Ngài đản sinh tại thánh địa hồ Liên Hoa, miền bắc Ấn Độ, khi cha mẹ Ngài đang trên đường hành hương. Theo tự truyện của Đức Pháp Vương, hôm đó đúng dịp các đạo sư tập hợp nơi hồ Liên Hoa, tổ chức đại pháp hội Tse Chu.
Từ nhỏ, ngài đã chứng tỏ năng lực tâm linh siêu việt, trước khi biết đọc, biết viết, đã phân biệt được các bản kinh sách. Năm 1966, các bậc thị giả và tùy tùng của đời trước đến Dalhousie, miền bắc Ấn Độ để tìm hóa thân mới của Pháp Vương Gyalwang Drukpa. Hai ngày trước khi gặp đoàn thị giả, Ngài đã nói với cha mình rằng: “Có một người đàn ông với bộ râu trắng sẽ đến tìm con”. Ngài được ban pháp danh là Jigme Pema Wangchen, có nghĩa là Đấng Vô Úy Liên Hoa Quyền Lực Tự Tại.
Hơn 30 năm truyền giảng Phật pháp toàn thế giới, Đức Pháp Vương đã khởi xướng nhiều dự án nhân đạo, đúng với tôn chỉ phụng sự nhân loại và vũ trụ của Truyền thừa Drukpa. Một trong những dự án tiêu biểu nhất là Tổ chức từ thiện quốc tế Live to Love (Sống để Yêu thương) nhằm thúc đẩy 5 nhóm việc thiện nguyện: bảo vệ môi trường, cứu trợ, giáo dục, dịch vụ y tế và bảo tồn di sản.
Những thành quả mà dự án trên đem lại đã được quốc tế công nhận. Năm 2010, Đức Pháp Vương được Liên Hợp Quốc trao tặng giải thưởng “Vì mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ” (MDG). (Nguồn: VNExpress)

 

9. Matthieu Ricard (Pháp)

 
Matthieu Ricard sinh ngày 15/2/1946 tại Aix-les-Bains, Pháp. Sinh trưởng trong một gia đình có cha là một triết gia Pháp nổi tiếng và mẹ là một nữ họa sĩ đã theo Đạo Phật, trong Matthieu Ricard sớm hình thành niềm đam mê, khát khao tìm hiểu cuộc sống tu hành chốn thiền môn. Vì thế, năm 1972, Matthieu Ricard quyết tâm từ bỏ cuộc sống hiện đại và sự nghiệp đầy hứa hẹn của một nhà khoa học để lên đường sang Tây Tạng, tập trung vào việc thực hành Phật giáo. Tại Tây Tạng, Ricard trở thành tu sĩ và là học trò thân thiết nhất của đại sư Dilgo Khyentse Rinpoché.
Hơn bốn chục sống tại Tây Tạng, Ricard đã được trao tặng huân chương National Order of Merit cho những cống hiến về bảo tồn văn hóa Tây Tạng và những dự án nhân đạo ở nước này.
Ngoài thời gian tu tập và phiên dịch tiếng Pháp cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ricard còn là một nhà nhiếp ảnh, một dịch giả và là tác giả của nhiều tác phẩm bàn về hạnh phúc, về triết lý cuộc sống của nhà Phật cũng như mối tương quan giữa Phật giáo và khoa học.
Matthieu Ricard là nhà sinh học, nghiên cứu về tế bào di truyền nhiều năm tại Institut Pasteur, học trò của Francois Jacob. Matthieu Ricard đã đi theo đạo Phật và trở thành một trong những nhà sư rất được kính trọng. Ông là phiên dịch viên tiếng Pháp của Đức Dalai Lama, nhà nhiếp ảnh, dịch giả và tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng như: Nhà sư và triết gia (Cùng với Jean-Francois Revel, Nil, 1997); Những nhà sư vũ công của Tây Tạng (Albin Michel, 1999); Himalaya Phật giáo (La Martinière, 2002); Tư tưởng Tây Tạng (Le Seuil, 1996); Cái vô hạn trong lòng bàn tay (Cùng với Trịnh Xuân Thuận, Nil, 2000). Tiêu biểu nhất là cuốn “Tu sĩ và triết gia” xuất bản 1998 đã được dịch ra 21 thứ tiếng. Ngoài ra còn có thể kể đến: Cái vô hạn trong lòng bàn tay (2005), Hạnh phúc: Hướng dẫn phát triển kĩ năng quan trọng nhất trong cuộc sống (2007), Nghệ thuật thiền định (2008).
Hiện Mathieu Ricard đang ở tại tu viện Shéchèn (Nê-pan), cống hiến cuộc đời cho việc bảo tồn nền văn hóa Tây Tạng và cho những dự án nhân đạo ở Tây Tạng.

 

10. Mike George (Anh)

 
Mike George là một tác giả nổi tiếng và là một diễn giả truyền cảm hứng cho hàng chục ngàn người ở hơn 30 quốc gia trên thế giới.
Các buổi thuyết trình của ông giúp con người nâng cao nhận thức về những nguồn lực nội tại của bản thân để trở nên hài lòng hơn với chính mình và đạt hiệu quả cao hơn trong mọi công việc. Ông giúp phát triển những kỹ năng thực tiễn về cảm xúc và tinh thần trong mỗi người để xây dựng và duy trì các mối quan hệ ổn định, thân ái. Thông qua đó, chúng ta sẽ phát hiện và khám phá sự thông thái mà con người cần có để tạo nên một cuộc sống cân bằng và mãn nguyện.
Mike George không phải là tác giả xa lạ với bạn đọc Việt Nam. Ông đã có nhiều cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Việt như: Từ giận dữ đến bình an, Dưới ánh sáng của thiền, 7 ảo tưởng tình yêu, Khơi sáng tinh thần & Giải tỏa stress… Đặc biệt, vào năm 2008, ông từng đến Việt Nam để trò chuyện về các giá trị của nghệ thuật sống. Tiếp đó, vào tháng 6 năm 2009, tác giả Mike George trở lại Việt Nam theo lời mời của Đài Truyền hình Việt Nam – kênh VTV1, Trung tâm Những giá trị sống Inner Space và Công ty Văn hóa Sáng tạo Trí Việt – First News. Trong chuyến đi này, Mike George tham dự chương trình Người đương thời trên kênh VTV1, chủ đề Từ giận dữ đến bình an cùng 2 buổi nói chuyện trong hai chương trình tại TP.HCM là Sức mạnh của suy nghĩ tích cực và Thất bại hay thành công.

Nguồn: Bookaholic.vn

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

4 − two =