Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam

0
409

Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam

Đặng Thị Hảo

LTS: Mới đây, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vừa cho ra mắt cuốn Văn học Cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật – một tinh tuyển các bài viết trong vòng 50 năm nghiên cứu của chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực văn học Cổ cận đại Việt Nam: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi.

Sách dày 1.200 trang, khổ, 16x20cm, cấu trúc gồm bốn phần hô ứng chặt chẽ, bám sát hệ thống tư duy khoa học lớp lang của nhà nghiên cứu: Phần một và hai của cuốn sách tập trung vào việc tiếp cận các hiện tượng văn học đặc thù của văn học Cổ cận đại Việt Nam. Phần thứ ba: tiếp cận các tiến trình văn học diễn ra trong suốt chặng đường mười thế kỷ của văn học dân tộc. Phần bốn tập trung tìm hiểu tư duy phương Đông và một vài đặc trưng văn học sử Việt Nam. Cả bốn phần đều là những nghiên cứu khoa học sâu kỹ, từ điểm nhìn văn hóa phương Đông và từ xu thế hướng tới hiện đại của tư duy thẩm mỹ, tác giả đã thông qua thao tác giải mã các “mã nghệ thuật” làm điểm tựa then chốt để đi sâu tìm hiểu, lý giải các hiện tượng, các tiến trình và các vấn đề được đúc lại thành lý thuyết của văn hóa văn học cổ Việt Nam, đặc biệt làm nổi bật hai dòng chính là văn học yêu nước chống Trung Quốc xâm lược và văn học mang đậm sắc thái chủ nghĩa nhân văn. Đây là một cuốn sách quý dành cho các nhà nghiên cứu chuyên sâu, các nghiên cứu sinh, sinh viên chuyên ngành về văn học, văn hóa cổ phương Đông và Việt Nam, và cho tất cả những ai yêu thích tìm hiểu truyền thống lâu dài của văn học dân tộc, cả những ai muốn tìm những kênh giao lưu tình cảm tư tưởng với tác giả trên những vấn đề có ý nghĩa lâu dài của đất nước. Ngoài phần chính văn, cuối bộ sách còn có một bảng tra cứu danh từ riêng về tác gia và tác phẩm được trích dẫn trong sách, có đối chiếu với ngôn ngữ nguyên gốc (tiếng Hán, Pháp, Anh, Nga, Đức, Hy Lạp…).

Sách do TS Đặng Thị Hảo tuyển chọn và giới thiệu, Giáo sư Vũ Khiêu đề dẫn, và được chính tác giả soát lại, bổ chính, nhất là bổ sung phần trích dẫn gốc (Hán văn, Pháp văn…) đã phải lược bớt do giới hạn số trang khi đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Dưới đây http://phebinhvanhoc.com.vn xin đăng lại bài viết khá công phu của người tuyển chọn để bạn đọc có thể hình dung đôi nét khái quát về những đóng góp quan trọng của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đối với ngành nghiên cứu văn hóa văn học truyền thống của Việt Nam.

Với một lý lịch khoa học ở dạng trích ngang cũng đã dài đến vài trang giấy, mà ở đó, người ta không thấy có sự chuyển dịch của những địa danh công tác hay sự thăng tiến địa vị, mà chỉ thấy nổi lên một danh mục dày đặc những bài viết, công trình nghiên cứu, dịch thuật, chuyên luận do Nguyễn Huệ Chi viết hoặc chủ biên, đến thời điểm này, có thể nói một cách tự tin rằng đó là những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Cổ cận đại Việt Nam. Tuy nhiên sau một chặng đường dài hơn 50 năm miệt mài với vốn cổ, Nguyễn Huệ Chi đã cống hiến vào thành tựu chung của ngành nghiên cứu cổ văn những gì là một câu hỏi khó có thể trình bày trong một tiểu luận nhỏ. Phác vạch ra được một vài dấu ấn của thành quả nghiên cứu ấy cũng có thể xem là sở nguyện của người viết bài này.

1. Giải mã tác gia – tác phẩm, đề xuất các vấn đề lý thuyết

Nguyễn Huệ Chi bắt đầu cầm bút nghiên cứu từ thuở còn là sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1957 và năm 1958, ở năm thứ hai và thứ ba Khoa Ngữ văn khi ấy, ông đã cùng một người bạn đồng học là Nguyễn Tư Hoành viết hai bài đăng chững chạc trên tập san Văn sử địa của Ban nghiên cứu Văn sử địa trung ương do GS. Trần Huy Liệu làm Trưởng ban, trong đó có một bài Có nên chữa lại các tác phẩm văn học trước Cách mạng tháng Tám hay không được Ban biên tập tờ tạp chí nghiên cứu học thuật duy nhất của miền Bắc lúc bấy giờ trang trọng ghi vào “yếu mục”. Và trong tháng Mười năm 2010, khi tác giả gặp PGS. Peter Zinoman, nhà Việt học người Mỹ ở Trường Đại học Berkley, Hoa Kỳ, ông Zinoman đã cất công tìm cho được bài báo ấy đưa ra để chứng tỏ ông đã “chú ý đến GS. Chi, người thích vận dụng lý thuyết để lật ngược các vấn đề văn học từ lâu lắm rồi”. Còn bài thứ hai thì cũng lạ, là bài phê bình bộ Văn học trào phúng Việt Nam của học giả Văn Tân, người nổi tiếng canh gác lập trường cho ngành khoa học xã hội miền Bắc một thuở, vậy mà nhà phê bình mới bước chân vào cuộc đời nghiên cứu có vẻ như đã dám phớt lờ hay bỏ ngoài tai những điều “cấm kỵ”: ông phản bác Văn Tân rằng thơ Hồ Xuân Hương tuy đề cập đến những hình ảnh gây cảm giác “tục” thật đấy, nhưng mục tiêu thẩm mỹ mà nó nhắm tới lại vuợt lên rất xa cái mà thế tục gán cho nó là “dâm” (nên nhớ nói đến thơ Hồ Xuân Hương, cho đến tận giữa những năm 80 thế kỷ XX hoặc muộn hơn nữa, ở miền Bắc vẫn là chuyện… “bất thường”). Có thể nói đối với văn giới, hai bài nghiên cứu đầu tiên đã làm người ta bắt đầu chú ý đến cái tên Nguyễn Huệ Chi dầu anh chỉ mới là một sinh viên “chân trắng”.

Nhưng không chỉ thích đặt lại vấn đề, phong cách ngày một định hình và gần như đeo đuổi suốt cuộc đời nhà nghiên cứu là luôn luôn lật đi lật lại những gì mình cất công tìm tòi suy nghĩ. Làm khoa học với ông là liên tục tự đối thoại với mình.

Vừa bước vào môi trường nghiên cứu ở Viện Văn học đầu năm 1961, thì tháng 6 năm ấy, Nguyễn Huệ Chi xuất hiện trên tập san Nghiên cứu văn học với bài Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong thơ Cao Bá Quát. Đây là bài viết đầu tay về một tác gia văn học quá khứ – lại là một nhân vật có khối lượng di cảo thơ ở mức “quá khổ” (hàng ngàn bài thơ chữ Hán) khiến cho lớp nghiên cứu viên trẻ tuổi thời điểm đó chẳng mấy ai dám “xông” vào. Vẫn biết Cao Chu Thần lừng lững thật đấy, nhưng để phát hiện được thật chính xác cốt cách con người, tư tưởng, những cống hiến nghệ thuật siêu tuyệt của thơ ông thì đâu có dễ. Lấy nhân sinh quan làm điểm hội tụ cho cái nhìn nghệ thuật, Nguyễn Huệ Chi đã mạnh dạn đặt Cao Bá Quát trong mối tương quan với tầng lớp nho sĩ, trí thức cùng thế hệ và tự tin khẳng định: nhân sinh quan của Cao vượt trội so với mặt bằng chung của trí thức nửa đầu thế kỷ XIX – đó là một thái độ “nảy lửa” trước thống trị nhưng lại cũng là “cái nhìn tràn đầy yêu mến đối với nhân dân; có con mắt nhìn rất sâu vào từng khía cạnh của cuộc sống muôn vẻ, nhưng Cao lại cũng biết nhìn khái quát về tình trạng bi phẫn nói chung của hiện thực đuơng thời”([1]). Sau này, ông còn trở đi trở lại với đề tài Cao Bá Quát nhiều lần, bằng các cuộc giảng giải, trao đổi và các bài nghiên cứu công phu, mở rộng nhiều hướng tiếp cận, khẳng định thêm những luận điểm đã từng đề xuất, khơi sâu thêm đặc trưng nghệ thuật trong một số chùm bài tiêu biểu, đính chính đôi chi tiết trong tiểu sử hoặc một vài địa danh có liên quan đến việc hiểu đúng, sai một bài, thậm chí một câu thơ hay một thời đoạn trong hành trạng Cao Chu Thần. Rõ ràng, cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn Cao Bá Quát, xoay quanh những điểm nhấn quan trọng nhất, đã ám ảnh tâm trí Nguyễn Huệ Chi suốt 50 năm. Từ các bài viết cắm mốc cho từng bước đi của ông, như: Nhân sinh quan Cao Bá Quát, Khí phách Cao Bá Quát, Tiếp cận nghệ thuật đối với hai chủ đề độc đáo trong thơ Cao Bá Quát([2]), v.v. đến thời điểm hiện tại, Nguyễn Huệ Chi có lẽ là một trong số ít nhà nghiên cứu, không phải với một công trình dài hơi mà chỉ bằng nhiều tiểu luận vài chục trang giấy tổng hợp lại, đã cấp cho chúng ta một diện mạo khó lẫn về con người tư tưởng, về tầm vóc nghệ thuật của Cao Chu Thần. Ông giúp ta thấm thía khát vọng tự do của một trí thức xuất chúng thông qua nội dung thông báo của thơ ca, gắn liền với những biến đổi hữu cơ trong kết cấu ngôn bản thơ ca, cả trong cách thay đổi âm vực và nhịp thơ độc đáo kỳ tài của con người đó.

Ý thức theo đuổi đến cùng một nhiệm vụ khoa học đã khiến Nguyễn Huệ Chi thường day dứt, nung nấu, viết và phản tỉnh lại những điều mình viết để sâu chín hơn trong nhận thức. Vì thế, trong số những bài nghiên cứu của ông, hiếm thấy ông đi lướt qua một đề tài gì chỉ có một lần, như trường hợp Cao Bá Quát vừa dẫn. Danh mục công trình của ông cho thấy thường xuyên một hiện tượng: cùng một chủ đề, ông viết tới vài ba tiểu luận, lần lượt giải quyết từng ngóc ngách trong “hố thẳm tư tưởng” của nhà văn, cật vấn, truy cứu các mã khóa nghệ thuật, các “nhãn tự” để tìm lời giải cho các đề xuất khoa học, đến khi không còn bận gợn nào nữa mới tạm dừng. Vì thế, mỗi bài viết mới là một bước tiến sâu hơn tới nhận thức khả tín, khiến người đọc có thể “bị” ông lôi cuốn vào “cái không khí” đọc đi đọc lại mà vẫn không thấy nhàm. Ví dụ: ông đã viết Niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trãi(1962); một năm sau khi đưa vào tập kỷ yếu Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi (NXB Khoa học xã hội, H., 1963) đã có bổ sung một số kiến giải chưa thấy trong bài viết cũ; rồi mười chín năm sau nữa tập hợp thành tuyển tập riêng ông lại sửa chữa, nâng cấp, trình ra một văn bản “như mới”([3]). Ông còn đi sâu vào Quân trung từ mệnh tập không chỉ ở phương pháp lập luận mà ở một điểm then chốt hơn: tìm hiểu học thuyết lô gích như là gốc rễ quán xuyến bút lực và tư tưởng triết học của Ức Trai. Có Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn từ một nhân cách lịch sử đến dòng thơ tư duy thế sự (TCVH, số 3 – 1986), lại có Phác họa tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm (viết chung), rồi Nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm (Tạp chí Nhà văn, số 3 – 2000). Có Mấy suy nghĩ về thơ văn Lê Hữu Trác (TCVH, số 9 – 1964), sáu năm sau có tiếp Sức sống của thơ văn Lê Hữu Trác (in trong Kỷ niệm lần thứ 250 ngày sinh Lê Hữu Trác, NXB Y học, H., 1971), cùng năm ấy còn có Lê Hữu Trác và con đường của một trí thức trong cơn phong ba dữ dội nửa cuối thế kỷ XVIII (TCHV, số 6 – 1970)([4]), một sự hoàn kết của hai chặng tìm tòi đầu. Đồng tác giả Nguyễn Du và Thăng Long, vẫn chưa thoả mãn, ông lại tiếp tục khám phá, cho in bài viết tâm đắc: Biểu tượng đa nghĩa của Thăng Long trong thơ Nguyễn Du([5]). Ông phát hiện, sau mười năm gió bụi, Nguyễn Du càng ngày càng như mất hút dần về phương Nam, Thăng Long cũng vì thế trở nên xa vời theo ký ức. Nhưng càng xa Thăng Long, gần với Hồng Lĩnh, Nguyễn Du càng như nguời phải thường xuyên sống trong tâm trạng “ở hai đầu nỗi nhớ”. Nếu Nguyễn Du dành hai chữ “cố hương” cho Hồng Lĩnh và giãi bày điều đó trong dạng ngôn từ lộ, thì xem xét tinh hơn sẽ thấy nhà thơ đã dùng “cố quốc” để gọi Tràng An tuy cách gọi này không lộ mà kín. Và cả hai đều là một cặp đối ứng – một bên là biểu tượng nước, bên kia là biểu tượng nhà. Từ đó ông đã tìm ra “chìa khóa để ta hiểu một bài thơ khác hoàn toàn nói về Thăng Long mà không hề dùng đến một từ Thăng Long hay Trường An nào cả: bài Bát muộn – Xua nỗi buồn”,… Cứ thế, nhà nghiên cứu say mê luận giải  mã khóa nghệ thuật tiềm ẩn trong các biểu tượng thẩm mỹ, đem đến cho người đọc những trải nghiệm xúc cảm thú vị. Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa TK nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam

Nhiều tác gia, tác phẩm khác – Trần Tung (1230 – 1291), Trần Quang Khải (1241 – 1294), Trần Nhân Tông (1258  – 1308), Trương Hán Siêu, Phan Bội Châu (1867 – 1940), Lê Quý Đôn (1726  – 1784), Tỉnh quốc hồn ca và Giai nhân kỳ ngộ diễn ca của Phan Châu Trinh (1872 – 1926), Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách (1896 – 1973), v.v. cũng thường xuyên được Nguyễn Huệ Chi khai thác từ thói quen “viết – nghiền ngẫm – viết tiếp” như vậy và đều là những công trình chứa đựng dung lượng học thuật sâu, chắc. Ông luôn tìm tòi từ các vấn đề mình khảo sát, những hạt nhân duy lý trong tư tưởng thẩm mỹ của tác giả biểu hiện ra ở các diễn ngôn nghệ thuật, để không chỉ cuốn cảm xúc khám phá đi sâu đi xa, làm bật nảy các tín hiệu ngôn ngữ giúp gợi mở một vài lời giải, một đôi chỉ dẫn có ích nào đó, để rồi cùng “vấn thoại” với độc giả theo các định hướng khoa học đầy tâm huyết của mình. Ông là người nếu không phải sớm nhất thì cũng thuộc loại rất sớm, đã biết để ý tới “hình thức luận” – tuy một cách không hẳn tự giác tiếp nhận trào lưu đó của Nga – trong nghiên cứu văn học chữ Hán Cổ cận đại Việt Nam.

Cẩn trọng, nghĩ đến nơi đến chốn và quyết liệt thẳng thắn là tác phong khoa học của ông. Ở ông không có một câu một chữ nào “viết tràn đi cho xong”. Đã bước vào lĩnh vực nào thì cố gắng phát hiện, đẩy vấn đề đến mức phải giải quyết thêm được một bước tiến nữa mới thôi. Mãn Giác và bài thơ Thiền nổi tiếng của ông; “Độngtĩnhcủa đất nước qua thơ các vị vua thi sĩ thời TrầnTrên đường đi tìm một văn bản cổ “Lĩnh Nam chích quái”;Cảm hứng anh hùng thi nhân trong thơ Trần Quang Khải; “Quân trung từ mệnh tập, đỉnh cao của dòng văn học luận chiến ngoại giao chống xâm lượcHành trình nghệ thuật trong thơ Nguyễn Thượng Hiền – Người bắc cầu giữa hai thế kỷ; “Tỉnh quốc hồn cavà ngữ khí phê phán của Phan Châu Trinh; “Giai nhân kỳ ngộ diễn ca, một thể nghiệm mới của Phan Châu Trinh về truyện thơ lục bát; “Nét ngàivà Mày ngài”([6]),… là những bài tiêu biểu cho phong cách khoa học nói trên. Ngoài ra, cũng có thể dẫn một trường hợp làm “minh chứng”: mặc dù tiếp cận với thơ chữ Hán Nguyễn Du khá sớm qua các bài viết Tìm hiểu thơ chữ Hán Nguyễn Du (TCVH, số 11 – 1965);Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán([7]), thì ngược lại, Nguyễn Huệ Chi lại đến với Truyện Kiều khí muộn, khi mà tác phẩm đã là niềm quan tâm sâu rộng của học giới từ hàng trăm năm trước. Nhiều thành quả nghiên cứu quan trọng gắn liền với các tên tuổi Phạm Quỳnh (1892 – 1945), Đào Duy Anh (1904 – 1988), Trương Tửu (1913 – 1999), Hoài Thanh (1909 – 1982), Phan Khôi (1887 – 1959), Phạm Thế Ngũ (1921 – 2000), Phan Ngọc, Nguyễn Tài Cẩn (1926 – 2011), Đặng Thanh Lê, Trần Đình Sử,… Thế nhưng, khi Nguyễn Huệ Chi xuất hiện với tham luận Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyệnvới “Truyện Kiềucủa ông Đổng Văn Thành([8]) trong Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 240 năm mất đại thi hào (2004) – thì có thể nói không quá rằng: một vấn đề vẫn âm ỉ băn khoăn của độc giả yêu Truyện Kiều lâu nay là viết tác phẩm này, Nguyễn Du có sáng tạo nghệ thuật gì không, Truyện Kiều khác với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở chỗ nào,… đến đây mới được giải quyết thỏa đáng. Ai cũng yêu thích Truyện Kiều nhưng không phải ai cũng có thể nhận thức rành rẽ sự sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du. Nguyễn Huệ Chi đã nêu ra 5 điểm – cũng có thể gọi là 5 tiêu chí nhận diện cái hay cái dở của hai tác phẩm. Trước hết, muốn hiểu sâu sắc giá trị tác phẩm, người viết phải đọc được nguyên bản – yêu cầu đầu tiên về ngôn ngữ này, ông Đổng Văn Thành không thể đáp ứng (ông không biết tiếng Việt). Chỗ bất cập thứ hai của ông Đổng là đã xuất phát từ “cấp độ cốt truyện” – một phương diện không mấy có ý nghĩa đối với hai tác phẩm thuộc hai thể loại khác nhau – để ông kết luận Nguyễn Du không sáng tạo gì mà lệ thuộc hẳn vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện. Nguyễn Huệ Chi cho rằng: Nguyễn Du bứt phá vượt trội hơn hẳn Thanh Tâm Tài Nhân ở chỗ: “hai yếu tố “truyện” và “thơ” đã được kết hợp một cách kỳ diệu thông qua thiên tài sáng tạo của Nguyễn Du, từ phương thức tư duy thuần túy trần thuật bước sang địa hạt của tư duy tự sự – trữ tình, nâng cấp lên tư duy trừu tượng – biểu cảm, khiến cho cảm xúc của người đọc được nhân lên gấp bội”. Tuy nhiên, sự khác biệt trong quy trình sáng tạo của hai tác giả còn ở chỗ: mỗi người sử dụng một loại hình ngôn ngữ khác nhau: một bên là ngôn ngữ văn xuôi, một bên là ngôn ngữ thơ giàu biểu cảm. Độc sáng của Truyện Kiều là ở những đoạn bình luận trữ tình, trữ tình ngoại đề xuất sắc không thể có trong Kim Vân Kiều truyện. Những  tiết đoạn ấy cộng hưởng với nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đến độ tuyệt bút của Nguyễn Du, Thanh Tâm Tài Nhân không tài nào theo kịp,… Kỳ khu, sắc sảo, Nguyễn Huệ Chi cứ bóc tách dần năm phương diện khác biệt của hai tác phẩm, dẫn người đọc đi từ thuyết phục này đến sự tâm phục khác. Bài viết dài hơi của Nguyễn Huệ Chi là sự bứt phá mới so với hai tác giả Phạm Tú Châu([9]), Nguyễn Khắc Phi([10]) về cùng một chủ đề xuất bản mấy năm trước đó – góp phần quan trọng trong việc khẳng định dứt điểm những sáng tạo, tầm vóc tư duy nghệ thuật trác việt của thiên tài Nguyễn Du. Và chỉ ra những dụng công nghệ thuật đích thực của Truyện Kiều đứng cao hơn hẳn tác phẩm mà nó lấy làm điểm xuất phát. Bài viết khúc chiết, lập luận chặt chẽ, giọng văn thâm thúy gây tiếng vang trong giới Kiều học, giải tỏa bức xúc, thỏa mãn thưởng thức, và xa hơn,

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

fourteen + 15 =