HỌC GIẢ AN CHI Người làm rúng động nền học thuật Việt Nam

0
701
 

 

HỌC GIẢ AN CHI

Người làm rúng động

nền học thuật Việt Nam

 

PHAN HOÀNG

 

    NVTPHCM- Từ đầu thập kỷ 1990, bỗng xuất hiện một Huệ Thiên rồi An Chi như “từ trên trời rơi xuống” làm rúng động nền học thuật Việt Nam bằng những bài nghiên cứu, đính chính và kiến giải sắc sảo, thuyết phục. Anh phản biện, chỉ ra những sai lầm về tri thức của cả những “cây đa cây đề” vốn từ lâu chẳng mấy ai dám “đụng” đến. Biết tôi làm ở tạp chí Kiến Thức Ngày Nay nơi “trình làng” An Chi, người quen từ Nam chí Bắc cứ tò mò hỏi “An Chi là ai, tên của một người hay tên chung một nhóm người?” Mãi về sau, khi tôi đã chuyển sang gầy dựng tờ Người Đương Thời (nay là Đương Thời) và anh cũng chuyển sang cộng tác với tôi, vẫn không ít người còn nghi vấn “Thực sự An Chi là ai, người như thế nào?”. Bởi, dù tên tuổi học giả An Chi đã trở nên quen thuộc nhưng cho tới nay thông tin về cá nhân An Chi vẫn rất hiếm, hiếm như chính con người nhỏ thó hiền lành mà nội lực mạnh mẽ của anh, hiếm như lòng tự trọng và sự tự tin đôi lúc đến cực đoan của anh, hiếm như nền tảng tri thức hoàn toàn tự học và tích luỹ rất thâm hậu của anh, càng hiếm hơn ở con đường nghiên cứu khoa học mà anh suốt đời theo đuổi: góp phần “khai phá” và xây dựng ngành từ nguyên học còn “hoang hoá” của Việt Nam.

Võ Thiện Hoa (An Chi) năm 1958 ở Hà Nội

 

GIẤC MƠ ĐẸP CỦA MỘT HỌC SINH KHÁNG CHIẾN

 

Võ Thiện Hoa – Huệ Thiên – An Chi, ba tên gọi trong một con người nhưng cuộc hành trình từ Võ Thiện Hoa đến An Chi ẩn chứa khá nhiều bất ngờ thú vị.

An Chi là người Sài Gòn chính hiệu, sinh ra ở Gò Vấp, học sinh kháng chiến, tập kết ra Bắc, rồi lại trở về lặng lẽ sống và làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh. Anh mang hai quốc tịch Việt và Pháp. Một “sản phẩm” của lịch sử, bây giờ nghe thấy lạ, nhưng với thế hệ anh điều đó là bình thường.

Một chiều lành lạnh cuối năm, tôi đến nhà riêng của An Chi, nơi chỉ có hai vợ chồng “son” của anh đang sinh sống, nơi mà mới đây anh đau xót tiễn đưa người mẹ già về nơi an nghỉ cuối cùng. Căn nhà này nằm trên mảnh đất lâu đời của dòng tộc anh, và anh là người có trách nhiệm lo chăm sóc mồ mả, hương khói ông bà. Đã gần 20 năm rồi tôi hay lui tới căn nhà này để thăm anh, và trước đây còn thăm cả một người bạn láng giềng độc đáo của anh là thi sĩ Bùi Giáng.

Cũng đã gần cả chục năm nay tôi đã nhiều lần định làm một cuộc phỏng vấn “hoành tráng” về An Chi, nhưng dự định cứ mãi là dự định, để rồi bây giờ cuộc đối thoại đến một cách tự nhiên như bao câu chuyện khác giữa anh với tôi…

 

* Thưa anh, đã ở tuổi thất thập, mỗi dịp xuân về tết đến anh có cảm giác ra sao?

– Tôi nhớ đến những cái tết ngày xưa, lúc đó mình chỉ biết “ăn” mà chưa biết lo. Vui và thích lắm! Bây giờ, cứ Tết đến thì buồn, không biết tại sao, mặc dù cũng không túng thiếu.

 

* Anh và gia đình đón Tết Nguyên đán có gì đặc biệt?

– Buồn! Nhất là mới mãn tang mẹ tôi chưa đầy một năm.

 

* Thường, khởi đầu một năm mới anh giở quyển sách nào ra đọc?

– Nhiều năm nay, từ khi dùng máy tính, tôi mở đầu năm mới bằng cách lên mạng và những trang web đầu tiên mà tôi vào là Aporrea của Venezuela, rồi Le Grand Soir, Voltairenet.org, và những trang tin tức khác. Bình thường, ngày nào lên mạng, tôi cũng vào Aporrea và Le Grand Soir trước nhất.

 

* Trong cuộc đời mình, có cái Tết cổ truyền nào để lại trong anh dấu ấn sâu sắc?

– Tôi nhớ giáp Tết Ất Mùi- 1955, lúc đó tôi được đại diện của Đoàn Học sinh bí mật Sài Gòn- Chợ Lớn (tôi là học sinh Trường Chasseloup-Laubat) cử đi dự bữa tiệc tất niên (Giáp Ngọ) do nhóm Kiên Chí của Trường Pétrus Ký tổ chức tại Nhà hàng Mỹ Hương, đường Galliéni (gần rạp Hưng Đạo bây giờ). Mấy chục anh chị em đều là học sinh kháng chiến. Thật là vui! Tại đây, lần đầu tiên, tôi được nghe bài hát Kếtđoàn và lần đầu tiên được công khai bày tỏ lòng yêu nước của mình giữa đại diện học sinh nhiều trường công, tư khác nhau. Chuyện ngoài đời hẳn hoi, nhưng với tôi đó là một giấc mơ thật đẹp. Rồi Tết đến. Gia đình bên nội, bên ngoại đều rất vui. Tết hoà bình đầu tiên từ 1945 mà. Ngày mồng Một, tôi mở radio nghe Đài Nam Bộ, rồi cả đài miền Bắc. Hôm đó, được nghe bài hát của Đài Nam Bộ mà mấy câu đầu tiên của ca từ là “Tết năm nay là Tết trong Hoà Bình – Thủ đô tưng bừng, mừng Hồ Chủ tịch kính yêu – Đến nay Người đã về…” Không biết tại sao mấy chục năm nay, hình như bài này không được hát lại!

Học giả An Chi với người bạn láng giềng độc đáo-thi sĩ Bùi Giáng

 

LỜI “PHÁN” CỦA VỊ SƯ GIÀ & NIỀM SAY MÊ TỪ NGUYÊN HỌC

 

Học giả An Chi kể rằng, hồi nhỏ anh thường lẽo đẽo theo ông nội dẫn đi thăm một người bạn của nội. Ông này là vị sư trụ trì trong một ngôi chùa nhỏ, hành nghề bốc thuốc Nam chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Về sau ông nội mất, anh vẫn theo mẹ đến thăm nhà sư. Lần nọ, vị sư già nhìn anh rồi trầm ngâm quay sang mẹ anh nhỏ nhẹ nói đại ý rằng: Việc đời vốn dĩ hay phân chia thành các nghề, gọi tắt là sĩ-nông- công- thương. Cậu bé này dù có làm gì đi chăng nữa cũng sẽ quay về con đường của chữ “sĩ”. Và câu nói bất chợt ấy của vị sư già đã “vận” đúng vào đời anh…

Khi vượt tuyến ra Bắc bằng đường hàng không, chàng trai yêu nước Võ Thiện Hoa được cán bộ lãnh đạo hoạt động bí mật ở miền Nam viết thư giới thiệu cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Nhưng rồi anh lại không liên lạc với nhân vật lãnh đạo cao cấp nổi tiếng bấy giờ. Một thời gian ngắn ở Hà Nội, anh được vận động tham gia lực lượng thanh niên xung phong với lời hứa rằng sau khi hoàn thành nhiệm vụ sẽ được tự do lựa chọn ngành học. Hăm hở lên đường, anh tham gia xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội- Lào Cai, một năm sau nhiệm vụ hoàn thành anh chuẩn bị tinh thần đi học thì lại nhận lệnh chuyển sang Nhà máy chè Phú Thọ. Tiếp tục làm công nhân, nhưng anh và một số bạn trẻ miền Nam vận động lãnh đạo kiên trì vận động cho mình đi học. Mãi rồi ước mơ cũng thành hiện thực, anh ghi danh học lớp sư phạm trung cấp, ra trường được bổ nhiệm về dạy học ở Thái Bình. Chính trong thời gian vật loan với nghề gõ đầu trẻ nay gian khó giữa nơi heo hút, chàng thanh niên họ Võ đã bắt đầu tự học và tích luỹ kiến thức phong phú cho mình. Theo nhà báo Ngô Kinh Luân, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng người Thái Bình hiện sống ở TP.HCM cho hay ngày ấy ở Thái Bình giới văn nghệ trí thức không ai không biết Võ Thiện Hoa: “Ông là “đặc sản” của Thái Bình nay. Uyên bác thì khỏi nói rồi, mà dường như vẫn giữ được cái khí phách của người quân tử”!

Cũng chính thời gian ở quê lúa nổi tiếng của đồng bằng phía nam sông Hồng, cong người say chữ từ miền Nam này đã âm thầm đi vào nghiên cứu từ nguyên học. Học giả An Chi thổ lộ:

– Tôi là người chịu ơn rất sâu sắc về mặt tinh thần đối với tác giả Lê Ngọc Trụ mặc dù sau khi tích luỹ được một số kiến thức cơ bản về ngữ học thì tôi lại thấy ông không phải là người… tiên tiến. Tôi đọc Chánh tả Việt ngữ, bộ sách 2 quyển của Lê Ngọc Trụ (do nhà Nam Việt ở Sài Gòn xuất bản) năm 15 tuổi rồi từ đó mê luôn tiếng Việt, chữ Hán và từ nguyên. Thực ra, khi bắt đầu công việc nghiên cứu, tôi lại đi vào ngữ pháp tiếng Việt và đã có nhiều điều ghi chép mà tôi rất lấy làm tâm đắc, đặc biệt là về từ láy. Nhưng cũng chính khi đưa ra cách giải thích riêng về “nguyên lý” của từ láy thì tôi lại thấy phải đi vào từ nguyên.

 

* Xin anh cho biết cụ thể hơn.

– Lúc đó, tôi định nghĩa từ láy là giao điểm giữa một khung phụ âm đầu (hoặc khung vần) diễn đạt ý nghĩa chung với một vần (hoặc phụ âm đầu) riêng có tác dụng cá biệt hoá. Thí dụ như đối với bệu rệu, bịn rịn, bối rối, bộn rộn, bời rời, bủn rủn, v.v., thì B – R là khung phụ âm đầu chung còn ỆU, ỊN, ỐI, ỘN, ỜI, ỦN là vần riêng; đối với dần dà, lân la, nấn ná, ngân nga, v.v. thì ÂN – A là khung vần chung còn D, L, N, NG, là phụ âm đầu riêng. Khung phụ âm đầu B – R diễn đạt cái nghĩa chung của những từ đã nêu là: trạng thái tâm lý hoặc thể chất không ổn định hoặc không chắc chắn. Vần riêng ỆU cho biết đây là một trạng thái nhão của thịt; ỊN, một trạng thái lưu luyến; ỐI, một trạng thái lúng túng; v.v.. Ta cũng có thể phân tích kiểu tương tự đối với khung vần chung ÂN – A và các phụ âm đầu riêng D, L, N, NG. Nhưng xét cho thật chặt chẽ và khách quan thì chỉ có phần chung (khung phụ âm đầu hoặc khung vần) là đứng vững chứ phần riêng (vần hoặc phụ âm đầu) thì… Đồng thời nếu xét cho thật chặt chẽ và khách quan thì, ngay trong một từ láy, cả hai tiếng (âm tiết) cũng đều có thể có nghĩa. Chẳng hạn, trong bệu rệu thì cả bệu lẫn rệu, trongbối rối thì cảbối lẫnrối, trongbộn rộn thì cảbộnlẫnrộn,… đều có nghĩa. Thế là cái “khung” của tôi vỡ toang. Tôi suy nghĩ lại và thấy rằng cả hai âm tiết trong từ láy đều có nghĩa mà đối với những yếu tố hiện không còn biết được nghĩa thì chỉ còn có cách đi vào từ nguyên. Quan niệm này của tôi về sau đã gặp quan điểm của Cao Xuân Hạo cho rằng mỗi âm tiết trong tiếng Việt là một từ. Ở trong nước thì quan điểm này đã được ông lập thuyết một cách hiển ngôn, kiên quyết và triệt để trong bài Về cương vị ngôn ngữ học của tiếng, đăng lần đầu tiên trên tạp chíNgôn Ngữ, số 2 năm 1985. Rồi 15 năm sau, để chào mừng sinh nhật lần thứ 70 của ông, tôi đã viết tặng nhà ngữ học kiệt xuất Cao Xuân Hạo bài Hiện tượng láy xét về phương diện lịch sử, chứngminh nghĩa và nguồn gốc của 100 yếu tố láy, mặc nhiên bị xem là những yếu tố vô nghĩa. Bài này đăng lần đầu tiên trên tạp chíThông tin Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên – Huế, số 2 (24) năm 1999.

Dĩ nhiên là còn có những nguyên nhân khác khiến tôi đi vào lĩnh vực từ nguyên nhưng trên đây là nguyên nhân trực tiếp, chủ yếu và rất thú vị. Và vì đã dấn thân vào cho nên phải theo đuổi nó đến cùng, đến lúc nhắm mắt xuôi tay. Bây giờ, phụ trách mấy chuyên mục cho một vài tờ báo, thỉnh thoảng tôi cũng tranh thủ đưa cả chuyện từ nguyên vào đó.

 

* Cho đến thời điểm này, công trình về từ nguyên học của anh vẫn chưa xuất bản, vì sao, thư anh?

– Thực ra, nó cũng chưa phải là một công trình hoàn chỉnh. Với lại, tôi chưa thấy có nhà nào, chỗ nào thật lòng chịu in sách của mình cả. Ngay như bộ Chuyện Đông chuyện Tây 6 tập đã in (còn tập 7 chưa in), nay đã hết thì ít nhất cũng đã có 3 nhà xuất bản đến đặt vấn đề tái bản rồi đi… không trở lại. Còn nếu mình bỏ tiền ra in thì lại vướng ở khâu phát hành. Vì vậy, tôi không thấy mình được khuyến khích để hoàn thành nó. Huống chi, sức viết bây giờ đã suy giảm, tốc độ viết đã chậm lại mà hiện nay tôi còn có trách nhiệm với các mục thường xuyên trên một số tờ báo như đã nói, nên phải bảo đảm đều kỳ cho người ta. Thành ra cái quyển Từ điển từ nguyên các từ Việt gốc Hán của mình, tôi hãy cứ treo nó ở đấy.

 

* Với tư cách người trong cuộc, anh nhận thấy lĩnh vực nghiên cứu về từ nguyên học ở nước ta hiện đang ở đâu? Và theo anh, những công trình từ nguyên học nào có giá trị thực sự?

– Tôi cho là đang ở bước đầu và theo tôi thì ta chưa có công trình nào về từ nguyên học.

 

* Việc tranh cãi về sự đúng sai trong từ nguyên học xưa nay vẫn thường diễn ra, tuy nhiên trong quá trình đính chính những cái sai của người đi trước hoặc cùng thời, anh đã gặp không ít phản ứng ngoài khoa học. Anh thường đón nhận sự phản ứng ấy bằng tâm thế ra sao?

– Ngay tức thời thì hơi bị sốc. Nhưng cũng ngay sau đó thì trấn tỉnh lại rất nhanh chóng vì lập trường của tôi rất rõ ràng: phản ứng ngoài khoa học là của người đuối lý.

 

* Cho tới thời điểm này, có công trình nào ngoài từ nguyên học mà anh ấp ủ nhưng vẫn chưa thực hiện được?

– Dự định thì có vẻ to tát nhưng lực thì lại hoàn toàn bất tòng tâm. Tôi còn muốn viết một quyển sách mỏng về phổ hệ của tiếng Việt để chứng minh rằng nó là một ngôn ngữ Tày – Thái chứ dứt khoát không thể là Nam Á. Riêng ở Việt Nam, người ta theo thuyết Nam Á vì quá mê tín A.-G. Haudricourt; không biết có phải vì ông ta là đảng viên cộng sản hay không. Chứ về thuyết của Haudricourt thì tôi đã có nhận xét và phê phán kỹ lưỡng trong bài Sai lầm căn bản trong kiến giải của A.-G. Haudricourt về phổ hệ của tiếng Việt, đăng lần đầu tiên trênKiến Thức Ngày Nay số 143 (15.7.1994), sau đó in lại trong quyển Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm (Nxb Trẻ, 2004).

Trước đây, tôi còn dự định viết một quyển về ngữ pháp trên cơ sở những điều ghi chép của mình nhưng bây giờ, với lý thuyết của Cao Xuân Hạo, e rằng nó đã lỗi thời.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

14 − fourteen =