Truyện “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro” (The Snows of Kilimanjaro-Ernest Hemingway) dưới góc nhìn phân tâm học

0
285

Xung đột ba ngôi trong nhân vật Harry

Lịch sử tri thức loài người đã trải qua nhiều sự thay đổi và phát triển nhưng điểm lại có thể kể đến ba đòn giáng mạnh mẽ đã mang đến sự thay đổi nhận thức toàn diện nhất: Đó chính là cú giáng vũ trụ học, sinh vật học và đặc biệt là tâm lý học gắn liền với sự ra đời của phân tâm học của Simond Freud.

Với cú giáng vũ trụ học, Gallile khẳng định thuyết Nhật tâm nhưng đồng thời cũng phủ định nhận thức về vũ trụ của loài người. Với cú giáng sinh vật học, Darwin và “Nguồn gốc các loài” đưa con người ra khỏi quan niệm về nguồn gốc thần thánh mà cũng chỉ là một phần của vạn vật. Và với cú giáng về tâm lý gần đây nhất-Phân tâm học-thì lại một lần nữa con người bị tổn thương sâu sắc khám phá ra tầng sâu vô thức của bản ngã và chấm dứt những ảo tưởng rằng con người có thể làm chủ được hành vi của mình (điều đã được khẳng định với triết lý duy lý của Descartes với châm ngôn nổi tiếng: “Tôi tư duy nên tôi tồn tại”.)

Phân tâm học Freud có vai trò quan trọng khi góp phần giải mã hành vi tâm lý của con người và phát giác ra những vùng tối của vô thức. S.Freud đã chia bộ máy tâm thần của mình thành ba ngôi bao gồm:

– Cái Ấy (Le Ca): Cái bản năng, bản ngã, là nguồn chứa các nhu cầu bản năng và hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn.

– Cái Tôi (Le Moi/Ego): là cái Tự ngã, là kết quả giữa một phần vô thức chịu ảnh hưởng của ngoại biên (thế giới bên ngoài) và làm trung gian giữa Cái Ấy (Le Ca) với thế giới bên ngoài. Nguyên tắc vận hành của Cái Tôi (Ego) chính là chịu sự chi phối của ngoại biên và tìm cách thích ứng với hoàn cảnh, một mặt vừa là những biểu hiện của ham muốn, mặt khác lại phải luôn tìm cách kiềm chế những đòi hỏi.

– Và Cái Siêu tôi (Surmoi/ Super Ego): là tầng cao nhất của ý thức cá nhân con người. Hoạt động theo nguyên tắc ý thức về lương tâm, đạo lý, về sự thưởng phạt…trong xã hội. Cái Siêu tôi (Super Ego) như một vị quan tòa luôn luôn kiểm soát, trừng phạt Cái Tôi, kiểm soát mọi hành động của Cái Tôi.

Nhìn vào sự phân chia này có thể thấy Ego là một Cái Tôi hết sức mệt nhọc khi nó luôn phải chịu đựng sự thúc ép của bản năng, mặt khác lại chịu sự cai quản của quyền uy. Trong tâm lý của một con người, bộ ba đó có sự tác động, liên hệ nhưng đồng thời luôn luôn xung đột giữa những bản năng và cấm cản. Điều đó tạo nên sự xung đột thường xuyên với bản ngã, sự khó “tròn vai” của Cái Tôi với Cái Ấy và Cái Siêu Tôi và kết quả tất yếu là trạng thái lo âu bản thể luôn thường trực mà sinh ra một dạng tâm lý nhiễu tâm (hysteri) mà Freud đặc biệt quan tâm trong học thuyết của mình. Trong cuốn “Freud đã thực sự nói gì”, David Stafford-Clark đã phân chia những hình thức nhiễu tâm chính sau:

– Những trạng thái lo hãi, những nhân cách lo lắng vì dễ tổn thương.

– Những rối loạn ám ảnh-thúc đẩy và những nhân cách ám ảnh.

– Trầm nhược thần kinh, những nhân cách đặc biệt dễ tổn thương vì những tình cảm thất bại và tuyệt vọng.

– Những thái độ nhạy cảm quá mức, hay nghi ngờ và paranoia (hoang tưởng bộ phận); những nhân cách hướng theo những thái độ này.

– Những rối loạn đặc thù của tình trạng chưa trưởng thành tính dục; những nhân cách thích thú với những rối loạn ấy và nạn nhân của những rối loạn ấy.

[3, tr.161]

Freud cho rằng trạng thái lo âu là trạng thái phổ biến của con người và có ba biểu hiện chính: “Lo âu hiện thực” (trước các mối nguy hiểm ngoại giới), “Lo âu thần kinh” (sự lựa chọn mang tính bản năng) và “Lo âu đạo đức” (thụ cảm đau khổ, sự xấu hổ bên trong con người).

Với “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro”, có thể thấy sự xung đột ba ngôi mà chúng tôi đã trình bày ở trên được biểu hiện ở nhân vật Harry một cách rất rõ nét. Mà cụ thể nhất chính là qua những nỗi lo lắng, bất an, những trầm nhược của Harry xuất phát từ những tình cảm thất bại và tuyệt vọng từ chính cuộc đời anh.

Thái độ phức tạp của Harry trước người tình của mình, sự gắt gỏng, bất an, đều bắt nguồn từ những xung đột bên trong tâm thức của anh. Nguyên nhân đầu tiên và dễ nhận thấy nhất, đó chính là sự cảm nhận cái chết đang đến gần. Harry bị một vết xước, và chỉ vì “quên không bôi i-ốt ngay khi bị sước da” [5, tr.337] mà vết thương hoại tử trong rừng sâu và không thể liên lạc với bất cứ ai. Trước sự bế tắc, đau đớn về mặt thân xác và nỗi lo lắng, sợ hãi vì cái chết đang tiến đến gần, Harry không khỏi bất an và tuyệt vọng. Đó là một trong những phản ứng tự nhiên, tất yếu của Cái bản ngã tác động lên Cái Tôi của con người và hình thành nên nỗi “lo âu bắt nguồn từ thực tại”. Hay với Harry, đó là bản năng trong anh đã cảm thấy được cái chết liền kề. Người ta thường nhắc đến cái chết như một điều gì đó trừu tượng, vô hình nhưng với Harry thì nó đang tiến đến gần anh như một sinh vật: “Bởi vì lúc ấy, cái chết đã đến dựa đầu lên chân giường, và hắn có thể ngửi thấy hơi thở của nó”… “Nó nhích lại gần hắn hơn nữa, và bây giờ hắn không đủ sức nói với nó, và khi nó thấy hắn không nói được, nó bèn tiến sát hơn chút nữa, và lúc này hắn cố đuổi nó đi mà không phải lên tiếng, nhưng nó sấn lên người hắn đến độ toàn bộ sức nặng của nó đè lên ngực hắn,và trong khi nó ngồi thu lu đó khiến hắn không cựa quậy, nói năng gì được”. [5,tr.367]

Nhưng những điều dằn vặt Harry nhất không chỉ là nỗi sợ cái chết đang đến gần. Mà là những phức cảm, những nuối tiếc và đau đớn của một con người đã sống những tháng năm trái ngược với chính mình. Đó là nỗi lo âu, là sự đau đớn đến từ những thụ cảm xấu hổ bên trong con người sinh ra từ sự phán xét của cái Siêu tôi (Super Ego) lên cái Tôi (Ego) bên trong con người. Sự lo âu mặc cảm này xuất phát từ nhiều nguyên nhân.

Nguyên nhân đầu tiên chính từ những xung đột trong cuộc sống mà Harry đang sống. Anh đã từng là một con người đầy tự trọng và trách nhiệm, một con người đầy hoài bão, nhưng con người đó dường như đã chết: “Trước đó, hắn đã có một cuộc đời và cuộc đời ấy đã chấm dứt, thế rồi hắn lại tiếp tục sống trở lại cuộc đời ấy với những người khác, với nhiều tiền bạc hơn, với những gì hay ho, tốt đẹp nhất ở những chốn cũ và một số nơi mới nữa” [5, tr.343-344]. Anh đã từng yêu chân thành và say đắm, từng viết thư thú nhận rằng mình không thể xóa bỏ đi nỗi cô đơn nhưng con người đó cũng đã biến mất. Mà thay vào đó “hắn thôi không yêu nữa, khi hắn thấy chỉ toàn nói dối, như đối với người đàn bà này, bây giờ đây, người giàu có nhất trong tất cả, người có tất cả tiền bạc trên thế gian, đã từng có chồng và mấy con, từng bồ bịch và không thỏa mãn với những người tình ấy, hiện yêu hắn tha thiết như một nhà văn, như một đấng nam nhi, như một người bạn đời và như một tài sản quý báu, phải, thật kỳ lạ là khi hắn chẳng yêu gì nàng và chỉ dối trá, thì hắn lại có thể làm cho nàng sung sướng, bõ với đồng tiền nàng bỏ ra, hơn là khi hắn yêu chân thành”. [5, tr.347] Đến với nàng, hắn chấp nhận “bán chác nốt những gì còn sót lại từ cuộc đời cũ của hắn”. [5,tr.348] Harry ý thức rõ việc chấp nhận yêu và lợi dụng tình cảm của một người đàn bà bất hạnh như nàng, việc hắn không thực sự yêu nàng mà chỉ đổi lấy những tiện nghi vật chất, chỉ để có một người đàn bà “dễ chịu, biết trân trọng và vì nàng không bao giờ gây chuyện cãi cọ om sòm.”[5,tr.348] là xúc phạm đến nàng và với chính mình. Những điều đó làm Harry đau đớn nhưng lại không thể làm khác. Đã có lúc, Harry tuyệt vọng đến mức thốt lên rằng: “Yêu, yêu, tình yêu là một đống phân, và tôi là con gà trống nhảy lên trên đó mà gáy”.[5, tr.341]

Nguyên nhân thứ hai, đó chính là nỗi mặc cảm, lo âu của một nhà văn, một nghệ sĩ chưa thể viết những điều mình muốn viết và thậm chí đã bán rẻ ngòi bút của mình đổi lấy những tiện nghi sang trọng. Harry là một con người đầy ý thức và trách nhiệm. Anh muốn sống và viết bằng tất cả tâm hồn mình, bằng cách đứng về phía những người đứng dưới. Nhưng khi càng thâm nhập vào giới thượng lưu, vào bị những cám dỗ vật chất mua chuộc, Harry càng không thể viết tiếp: “ta không thuộc giới họ, mà chỉ là một tên gián điệp chui vào trong bọn họ; rằng ta sẽ từ bỏ cái thế giới ấy và sẽ viết về nó, và sẽ đến lúc cái đó được viết ra bởi một người thấu hiểu những gì mình viết. Nhưng mà hắn sẽ không bao giờ làm điều ấy, bởi vì mỗi một ngày không viết, mỗi một ngày sống đầy đủ tiện nghi, mỗi một ngày là cái đồ mà hắn khinh bỉ, cứ làm cùn khả năng của hắn và làm nhũng những ý chí làm việc của hắn, đến nước là, cuối cùng hắn chẳng làm gì hết” [5, tr.344]. Harry trốn tránh và tìm cách đổ lỗi cho nàng: “cái cô ả tốt bụng ấy, cái con đĩ tĩ vàng ấy, người bảo vệ nhiệt thành mà cũng là kẻ hủy hoại tài năng của hắn.” [5, tr.345] nhưng chính Harry cũng sớm nhận ra rằng, chính anh mới là kẻ hủy hoại tài năng của mình: “Chính hắn đã hủy hoại tài năng của mình. Tại sao hắn lại đổ lỗi cho người đàn bà này chỉ vì cô ta bao hắn chu tất? Hắn đã hủy hoại tài năng của mình bằng cách không sử dụng đến nó, bằng những lần tự phản bội bản thân, phản bội những điều mình tin, bằng rượu chè vô độ đến nỗi cùn mòn cả cảm quan, bằng lười nhác, ẽo ợt, bằng đua đòi điệu đàng bằng hợm hĩnh và định kiến, bằng mưu kế giảo hoạt” [5, tr.345] (…) “và hắn đã chọn cách kiếm sống bằng một cái gì khác, chứ không phải bàng ngòi bút”. [5, tr.346] Nhưng cám dỗ vật chất chỉ là một nguyên nhân, còn những nguyên nhân khác dẫn đến sự đình trệ, sự bất lực trong sáng tạo của Harry. Đó chính là sự bất mãn với hiện thực, với cuộc sống, với hiện thực con người vã xã hội trong hai cuộc chiến tranh (Thế hệ lạc lõng) mà chỉ những con người đã tham chiến như Harry mới hiểu hết. Sự ràng buộc của tình cảm đạo đức, của một người nghệ sĩ trong anh buộc anh phải viết, nhưng những bất lực buông xuôi theo cuộc sống biến anh thành một kẻ sống bám vào phụ nữ, giết chết tài năng của mình trong khi còn bao nhiêu điều phải viết “nhưng anh vẫn không viết”. Đối với một con người bình thường, Cái Tôi tồn tại và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố và dễ hình thành một cái Tôi xã hội. Đối với nhà văn cái Tôi xã hội muốn tồn tại một mặt phải thích ứng, một mặt phải bộc lộ dưới hình thức khác-đó là ngụy trang. Một trong những hình thức ngụy trang đó chính là sáng tác và với nghệ sĩ, đó chính là hình thức chủ yếu. Thế nhưng với Harry-một con người không tài nào bộc lộ ra được, không tài nào bộc lộ những uẩn ức bên trong tâm lý của mình ra bằng cách viết được thì Cái Tôi đó sẽ ra sao?

Bi kịch tâm lý dẫn đến những bất an, những gắt gỏng bên trong Harry chính là ở đó và khi đứng trước cái chết, phần bản năng, bản ngã trong anh trỗi dậy, càng làm tâm lý Harry trở nên phức tạp. Cái xung đột ba ngôi bên trong Harry đã diễn ra từ những nguyên nhân đó và Cái Tôi bên trong Harry chính là cái Tôi cực nhọc như thế.

Bản năng sống và bản năng chết

Để làm rõ bản năng sống và bản năng chết trong nhân vật Harry, trước tiên, chúng ta cần làm rõ khái niệm “Bản năng”.

“Bản năng là khuynh hướng vốn có của một sinh vật đáp lại một tác động hay điều kiện cụ thể. Bản năng thường là những mẫu thừa hưởng của những phản ứng đáp lại một sự kích thích. Đối với loài người, bản năng dễ thấy nhất khi quan sát những hành vi về thân thể, xúc cảm hoặc giới tính, bởi chúng đã được xác định rõ ràng về mặt sinh học. Bản năng tạo ra phản ứng tới một kích thích ngoài, làm khuynh hướng đó chuyển thành hành động, trừ khi chịu tác động của trí tuệ-sáng tạo và linh hoạt hơn.” [12]

Hemingway thường để cho nhân vật của mình vướng vào những tình huống nguy hiểm để bộc lộ bản chất bên trong của họ. Nhân vật Harry trong “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro” khi cận kề cái chết, bản năng sống và bản năng chết trỗi dậy mạnh mẽ. Cái chết đối với Harry đã phần nào dựng dậy nỗi ám ảnh về cái sống. Chính vì vậy, nhân vật đã có thể nhận thấy giá trị của cuộc sống và ý thức từng phút mình còn hiện hữu.

Cảm giác về cái chết, vốn là nỗi ám ảnh khôn nguôi đối với con người trong thế giới khiến cho bản năng chết trong Harry càng thể hiện rõ. Đỗ Lai Thúy trong cuốn “Bút pháp của ham muốn” đã nói về bản năng chết như sau“Nó thể hiện khuynh hướng bất khả kháng của mọi sinh vật sống là phải quay về trạng thái vô cơ. Biểu hiện của bản năng chết là sự lặp lại một trạng thái, nỗi buồn, nỗi đau có trước nào đó. Bản năng chết còn thể hiện ở bản năng gây gổ, bản năng hủy diệt, đặc biệt là hủy diệt chính bản thân mình”.[8,tr.137]

Harry có tuổi thanh xuân đầy ắp lý tưởng và hoài bão về một văn nghiệp chân chính, một cuộc đời ý nghĩa. Nhưng bước ra khỏi cuộc chiến tranh với sự đổ vỡ lý tưởng và một trái tim tan nát, anh nhanh chóng sa ngã, trở thành kẻ sống ký sinh những người đàn bà giàu có. Anh sống trong thời đại mà người ta xả súng vào đồng loại và chứng kiến sức hành hạ ghê gớm của cái chết đối với người lính. Một xã hội đảo điên, con người quay cuồng trước sức phá hoại của đồng tiền. Harry trở thành nạn nhân của xã hội ấy, anh cố gắng vùng thoát khỏi nó. Nhưng vì không thoát khỏi được nó, Harry mất đi ý chí sống.

Sau lần đi săn ở Châu Phi, Harry bị chứng hoại thư ở chân. Bệnh tật khiến cho Harry phải đối diện với cái chết, cái chết dần xâm chiếm lý trí của anh. Harry bảo người tình của mình “Hoặc giả em có thể bắn anh”[5, tr.333], anh gần như muốn buông xuôi tất cả “anh không muốn di chuyển” [5, tr.334], tâm lí chờ chết hiện hữu trong đầu anh. Nghĩ mình là “một thằng đàn ông chết” [5, tr.334], sẵn sàng cho rằng người tình là ngớ ngẩn khi không nhận ra mình sẽ chết, Harry cũng không cần đến xe cam-nhông, nghĩ mình sắp chết thì cần gì đến xe để di chuyển, mọi thứ đối với anh trở nên vô nghĩa. Thứ rượu uytxki-xôđa có hại cho vết thương cũng không làm Harry phải bận tâm.

“Từ khi chân phải hắn bắt đầu bị hoại thư, hắn chẳng thấy đau gì và nỗi khiếp sợ cũng bắt đầu biến mất cùng với cái đau.”

“Về cái hiện đang tới, hắn chẳng mấy quan tâm muốn biết.” [5, tr.336]

Chân bắt đầu hoại thư, tâm trạng Harry trở nên cộc cằn, dễ nổi cáu với mọi người, ngay khi người yêu của chàng hết lòng chiều chuộng. Trong những cuộc đối thoại cộc lốc với “nàng”, Harry tỏ ra bất cần. Ngay cả với cuôc sống trước nay chịu sự chi phối của đồng tiền xô dạt Harry, giờ đây anh sẵn sàng nói thẳng với người tình “-Cô là con đĩ, -hắn nói, -Đĩ tĩ vàng” [5, tr.342].

Harry suy nghĩ “ta tỏ thái độ bất cần cái công việc xưa nay ta vẫn làm, giờ đây khi ta không còn khả năng tiếp tục nữa” [5, tr.344]. Khi thấy sự hiện hữu bằng da bằng thịt của người yêu tươi trẻ, so sánh với bản thân mình, Harry thấy “cái chết lại đến”, nó đến nhiều lần có lúc bất chợt rồi đi. Giờ đây, anh cảm nhận được nó như một hơi thoảng của “cơn gió làm ngọn nến chập chờn rồi lại bốc lên cao”.

Chính trong phút giây ngắn ngủi còn lại của con người, bản năng sống trong Harry trỗi dậy. Chính khi đối diện với cái chết, anh hồi tưởng về con người chân chính của mình cũng như cuộc sống bản thân trước kia. Điều đáng trân trọng là dù trong tâm thức của Harry, sự hiện tồn dường như không có khả năng thay đổi, nhưng anh vẫn khao khát sống bằng những khoảng thời gian đã mất, và muốn thực hiện những điều đã từng nghĩ mà chưa bao giờ dám làm hoặc không thể làm. Mặc dù văn nghiệp của anh chỉ còn là mơ ước nhưng khi cận kề cái chết, Harry vẫn tìm lại thiên hướng viết văn. Suy nghĩ về tài năng, về sự viết, Harry cay đắng nhận ra mình đã lỡ, lỡ mất một văn nghiệp chân chính. Thiên hướng viết văn trở lại với Harry khi đối diện với cái chết, nhưng Harry lại không thể cầm bút lên. Bản năng sống trỗi dậy, Harry nhớ về những hồi ức, luyến tiếc những dự định ấp ủ. Trong sự hồi tưởng về quá khứ, Harry nhớ về tình yêu đã mất. Vì sống quá ích kỷ, anh đã bỏ người yêu đầu, đi khắp nơi tìm ý tưởng viết, tìm những người phụ nữ giàu có. Đến lúc được “nàng” hết lòng chăm sóc, Hary chỉ xem cô là một “con đĩ tĩ vàng”.

Biết mình sắp ra đi, Harry nhận ra mình đã đối xử “tàn nhẫn và bất công với nàng” [5] và thừa nhận “nàng” là “một phụ nữ cao đẹp”. Bắt đầu sống lại trong tình yêu cũng là lúc Harry nhận ra mình không còn được hưởng tình yêu ấy nữa: “Hắn chợt nghĩ ra là mình sắp phải chết” [5].

Harry lại nhớ đến phút giây vui thú với những người đàn bà và suy nghĩ tại sao mình không viết về những đề tài đó. Hàng loạt những gì xảy ra xung quanh đều có thể thành đề tài của anh, “nhưng giờ đây, hắn vĩnh viễn không làm được điều đó nữa rồi” [5, tr.355].

Bản năng sống và chết đan xen nhau, hiện hữu trong nhân vật Harry. Anh nghĩ mình “sẽ chết trong đêm nay”, Harry “muốn viết”, việc mà từ trước anh chỉ nghĩ đến chứ chưa thực hiện.

Harry bắt đầu biết quí giá khoảng thời gian ít ỏi của mình, muốn nhờ “nàng” ghi tốc ký, và “cảm giác như mọi sự dồn lại đến mức có thể thu gọn trong một đoạn văn ngắn nếu biết cách” [5, tr.357].

Bản năng sống của Harry muốn tìm lại tuổi thơ và tuổi trẻ đẹp đẽ của mình với những kỷ niệm thời thơ ấu gắn với người ông thân yêu ở “căn nhà gỗ, với những kẽ trát vữa trắng, trên một mái đồi ven hồ” [5, tr.357]. Harry phải chứng kiến căn nhà bị cháy rụi, những gì đẹp đẽ biến mất mà không trở lại nguyên vẹn được. Anh vẫn luôn nhớ về căn nhà cũ, nhớ khẩu súng săn, nhớ người ông đáng kính.

Bản năng chết của Harry bằng lòng với hiện tại, với cái chết sắp ập đến:“Giờ đây hắn sẽ dửng dưng với cái chết” [5, tr.364]. Nhưng phần bản năng sống của anh lại không muốn điều đó xảy ra, cảm giác “bị một cái gì đó đã làm hắn đau, khủng khiếp và đúng lúc hắn cảm thấy mình sắp quỵ thì cái đau bỗng dứt hẳn” [5, tr.364]. Không lâu sau cái chết lại lướt qua lần nữa, bản năng chết Harry thấy “cái chết đã đến dựa đầu lên chân giường, và hắn có thể ngửi thấy hơi thở của nó” [5, tr.366].

Cái chết chiếm lĩnh trong mọi suy nghĩ của Harry. Trải qua những phút giây cận kề cái chết, anh như được sống lại với chính mình bằng bản năng vốn có. Anh mường tượng về quá khứ, về những kỉ niệm đẹp, về những dự định ấp ủ bằng bản năng sống. Nhưng khi tồn tại trong mình bản năng chết, Harry đánh mất đi hi vọng vào việc chữa trị vết thương, đắm mình trong rượu mặc sự ngăn cản của “nàng”. Anh sẵn sàng gây gổ với bất cứ ai, luôn nghĩ mình sẽ chết.

Giấc mơ và những ẩn chứa vô thức

Với Phân tâm học Freud, giấc mơ và những biểu tượng của giấc mơ luôn chiếm giữ một vai trò quan trọng và đặc biệt hấp dẫn ông: “Trên thực tế, lý giải các giấc mơ là con đường lớn của sự hiểu biết về cái vô thức, là cơ sở vững chắc nhất cho những nghiên cứu của chúng ta, và hơn bất cứ cách nào khác, chính việc nghiên cứu giấc mơ sẽ làm cho các bạn thấy rõ giá trị của Phân tâm học và sẽ giúp các bạn thực hành nó”. (Trích bài giảng thứ ba trong Năm bài giảng về Phân tâm học ở Mỹ và được công bố năm 1910) [2,tr.77]

Vì sao giấc mơ có vai trò quan trọng như vậy? Vì theo Freud, tất cả các giấc mơ đều có ý nghĩa của nó. Giấc mơ có hai phần, bao gồm phần nội dung hiện ra và yếu tố lờ mờ không nhận thức rõ. Freud xem giấc mơ như hệ thống các ký hiệu tượng trưng cho những ham muốn của Cái Ấy (Le Ca) không được thõa mãn và không được biểu hiện trong cuộc sống hằng ngày. Chính vì vậy, việc khám phá những giấc mơ chính là chìa khóa quan trọng để mở ra những bề mặt phía sau của vô thức, của phần còn chìm khuất sâu trong tâm lý con người. Freud cũng đã phân biệt các nguồn gốc của giấc mơ như sau:

– Một sự kiện mới xảy ra, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xúc cảm của người nằm mơ được biểu hiện trực tiếp bên trong giấc mơ.

– Nhiều ý tưởng mới, quan trọng được giấc mơ trộn lẫn thành tập hợp đơn giản.

– Một hay nhiều sự kiện mới xảy ra và quan trọng trong đời sống cảm xúc của người nằm mơ có thể được biểu hiện trong giấc mơ, bởi một ký ức cũng mới mẻ nhưng vô tình.

– Một ký ức hay một ý tưởng, tuy quan trọng nhưng đã qua từ lâu và đã bị chôn vùi, được biểu hiện trong giấc mơ bằng một ấn tượng mới mẻ và tương đối vô hình.

[2,tr.90]

Nhìn chung, giấc mơ bắt nguồn từ những sự kiện, ý tưởng mới xảy ra hoặc xảy ra đã lâu nhưng đều có tác động ít nhiều đến tâm lý con người mà đôi khi nó nằm ở phần vô thức và chính bản thân người đó cũng không nhận thức được vai trò của nó. Bằng chất liệu chính là sự kiện, giấc mơ được hình thành qua những cơ chế sau: Cô đặc, di chuyển, kịch hóa, tượng trưng hóa và cuối cùng chế biến lần thứ hai.

Việc khám phá và lý giải giấc mơ vì thế mà có vai trò quan trọng khi nó góp phần lý giải, giải tỏa những căng thẳng bị dồn nén và cấm đoán của con người trong cuộc sống bình thường. Giấc mơ có vai trò quan trọng, xuất phát chủ yếu từ những ý nghĩa tượng trưng, những hình ảnh hiện ra bên trong giấc mơ.

“Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro” dường như là một hành trình của những giấc mơ của nhân vật Harry. Những giấc mơ đó dường như là hồi ức, là hoài niệm, là lúc Harry nghĩ về một quá khứ đã xa nhưng dường như tất cả lại hiện về trong ký ức Harry. Đó là những phần hồi ức, nhưng cũng có thể là những giấc mơ không theo một trật tự thời gian nào cả.

Nhưng nhờ điều đó mà người ta có thể đào sâu vào tâm lý nhân vật Harry. Những giấc mơ, hồi ức, ký ức chính là những phần in nghiêng trong văn bản. Đó đều là những sự kiện, những phần quá khứ đã trải qua trong cuộc đời Harry, là những điều anh muốn viết, muốn nói đến trong sáng tác của mình nhưng cuối cùng cũng chỉ là những dự định. Đó là ám ảnh về chiến tranh, về sự bế tắc trong những mối tình đã qua, là những điều “nào biết tại sao” mà chính anh cũng không thể lý giải nổi. Thì nay giữa sự sống và cái chết. Khi tử thần đang chực chờ bên mình, tất cả hiện về cùng với những phức tạp trong tâm lý Harry.

Những giấc mơ ấy không tuân theo một trật tự nhất định nào, không tuân theo một hồi ức liền mạch thời gian nào. Nhưng ám ảnh Harry nhất vẫn là những hồi ức về chiến tranh:

“Nhưng hắn chưa bao giờ viết lấy một dòng về cái đó cũng như về cái ngày Nôen giá rét, sáng sủa với rặng núi in bật lên nơi cuối dải đồng bằng, cái ngày Barker bay qua chiến tuyến ném bom chuyến tàu bọn sĩ quan Áo về phép, xả súng máy vào họ khi họ chạy toán loạn. Hắn nhớ lại Barker sau phi vụ ấy được phong hàm sĩ quan và bắt đầu kể chuyện.Và không khí mới ắng lặng đi làm sao chứ, rồi một tay nào đó nói: “Mày là thằng sát nhân chó đẻ khốn khiếp”. [5, tr.340]

“hắn đã phi ngựa suốt ngày qua những cánh đồng trồng cây thuốc phiện (rút cục, nó gây một cảm giác đến là kỳ cục, mọi khoảng cách đều như sai lạc đi), phóng miết tới chỗ đánh úp bọn sĩ quan mới chân ướt chân ráo từ Constantine đến, chả hiểu mô tê gì cả, và pháo binh đã nã vào đoàn quân, và tay quan sát người Anh đã khóc như con nít.

Ngày hôm ấy lần đầu tiên, hắn trông thấy những xác lính mặc váy bale màu trắng”. [5, tr.353]

“Nhưng đêm ấy, cậu ta bị kẹt trong hàng rào dây thép gai, pháo sáng soi rõ mồn một, và ruột lòi ra lòng thòng vướng vào dây thép gai đến nỗi phải cắt rời mới mang cậu ta sống sót trở về. Bắn tao đi, Harry! Lạy Chúa, mày bắn tao đi cho rồi!” (…) “Nhưng hắn không bao giờ quên Williamson cái đêm ấy. Không gì làm cho Williamson tịch đi được, cuối cùng hắn phải cho cậu ta tất cả những viên mooc-phin hắn vẫn để dành riêng cho mình, và mặc dù vậy, vẫn không công hiệu ngay tức thì”. [5, tr.365]

Không chỉ là chiến tranh, mà còn là những điều mà người ta không thể phân định là đúng hay sai. Đó là câu chuyện của cậy bé “dở ngây dở dại” đã giết ông chủ “vẫn hay đánh đập thằng nhỏ” và bị bắt mà “không ngờ mình sẽ bị bắt” và “ngỡ mình đã làm tròn bổn phận và nó sẽ được thưởng cơ. Nó đã giúp một tay kéo xác lão già về tỉnh để mọi người thấy là lão xấu xa như thế nào, và khi tay quận trưởng cảnh sát còng tay thằng nhỏ, nó không thể tin đó là sự thật”. [5, tr.363]

Đó là những điều đã ám ảnh Harry trong suốt cuộc đời mình. Là những tháng năm anh sống chung với máu, với những cảnh tượng kinh khủng nhất và với cả những “sự thật” mà chỉ trong chiến tranh, người ta mới có thể chứng kiến. Tất cả đều có thể là đề tài để Harry viết, nhưng anh đã không viết và trở thành một nỗi ám ảnh đến mức Harry nhiều lần tự hỏi chính mình rằng: “Hắn biết chí ít là hai mươi câu chuyện lí thú ở vùng ấy mà hắn chưa hề viết một chuyện nào. Tại sao?” [5, tr.363] Thì nay, khi đối diện với cái chết, tất cả lại đồng loạt hiện về dưới những giấc mơ, những miên man suy nghĩ của Harry và những nỗi buồn, day dứt khi chưa thể viết nên những điều mình mong muốn.

Những hồi ức quá khứ gợi cho Harry những giấc mơ, những hồi ức và kỷ niệm. Nhưng trong những giấc mơ đó có một biểu tượng làm người ta chú ý đến: đó là tuyết. Tuyết trắng xóa và tinh khiết, đến mức làm người khác sững sờ đến mức không nhận ra được, nhưng cũng chính trên nền trắng xóa ấy, bao nhiêu điều đã xẩy ra: “Đấy không phải là tuyết, chúng mình nhầm rồi. Nhưng mà đấy đúng là tuyết thật và khi thực hiện trao đổi cư dân, hắn đã tống các cô ra lội tuyết mà các cô đã lang thang đến khi chết gục mùa đông năm ấy. (…) cữ ấy có anh chàng đào ngũ đến, đôi chân nhỏ máu trên tuyết (…) tuyết sáng chói cả mắt khi ta ngồi trong tiệm rượu nhìn ra và trông thấy từng người từ nhà thờ đi về nhà (…) Dạo ấy lúc nào cũng có sát phạt, không có tuyết cũng đánh bạc, tuyết nhiều quá cũng đánh bạc. Hắn ngẫm nghĩ về tổng số thời gian hắn đã tiêu phí vào việc đánh bạc trong cả đời mình”. [5, tr.399]

Tuyết trong “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro” và trong các sáng tác của Hemingway như một biểu tượng cho sự tinh khiết, cho một điều gì đó có thể thanh lọc mọi thứ. Giấc mơ cuối cùng đánh dấu cái chết của Harry là đến bên đỉnh Kilimanjaro. Nơi đó tuyết trắng xóa và phủ đầy đỉnh ngọn núi huyền thoại: “tất cả những gì hắn nhìn thấy, rộng như cả thế gian, mênh mông, cao ngất và trắng xóa dưới ánh mặt trời, trắng đến độ không tin được, là cái chóp vuông của ngọn Kilimanjaro. Và hắn biết rằng đó chính là nơi hắn đang đi đến”. [5, tr.368] Màu trắng của tuyết thanh lọc tất cả những muộn phiền của Harry, những băn khoăn day dứt, những điều mà cả đời anh không thể giải quyết được. Đó là sự trở về với hư vô (một trong những chủ đề ám ảnh các sáng tác của Hemingway). Thế nhưng nếu như trước đó, cái Hư vô-gắn liền với cái chết-ám ảnh Harry đến mức làm anh lo sợ, làm anh bất lực và chỉ như một con vật chực chờ đưa anh về cõi chết thì Hư vô ở cuối tác phẩm dường như lại là một sự giác ngộ. Harry nhận ra rằng cái chết không quá đáng sợ, và điều còn lại chỉ là một cõi Hư vô, trắng tinh như tuyết. Harry trở về với Tuyết, với Masai “Ngã je Ngài”, Ngôi nhà của Thượng đế.

Kỹ thuật viết Dòng ý thức như một biểu hiện của vô thức

Nhà phê bình văn học người Trung Quốc Vương Lâm cho rằng Dòng ý thức là một phương pháp sáng tác văn học: “Tuân theo hình ảnh phản chiếu của cuộc sống trải qua những ký ức, lắng đọng, hoài niệm, quên lãng rồi lại hồi ức”. [8]

Thuật ngữ “Dòng ý thức” bắt nguồn từ các văn bản Phật giáo sơ kỳ (theo chữ Pali là viññāna-sota), sau đó được phát triển mở rộng bởi hệ phái Yogachara (Du già tông) của Phật giáo Đại thừa thành một lý thuyết về tinh thần. Theo Đại đức người Sri Lanka Hammalawa Saddhatissa Maha Thera (1914-1990) thì: “Dòng ý thức, chảy qua nhiều kiếp sống, cũng thay đổi y như dòng nước. Đây là học thuyết anatta (vô ngã) của Phật giáo liên quan tới cá thể con người.”[8]

Thuật ngữ “Dòng ý thức” (Stream of consciousness) được đặt bởi nhà tâm lý học Mỹ William James (1842-1910) trong tác phẩm Principles of Psychology (Các nguyên tắc Tâm lý học -1890). Ông cho rằng ý thức “là một dòng chảy, một con sông, ở đó những tư tưởng, cảm xúc, liên tưởng bất chợt luôn luôn lấn át nhau và đan bện nhau một cách kỳ quặc, “phi logic”. Ngay lập tức, khái niệm này đã có một ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới nền văn học nghệ thuật hiện đại thời bấy giờ, hình thành nên bút pháp dòng ý thức.[8]

Trong văn học Âu Mỹ sau Thế chiến thứ hai (1939-1945), “Dòng ý thức” được tiếp tục ở những mức độ khác nhau trong sáng tác của trường phái “tiểu thuyết Mới” ở Pháp (M. Butor, N. Sarraute), trong một số thể nghiệm của loại tiểu thuyết tâm lý xã hội CHLB Đức (U. Jonshon, A. Andersen); nhưng nó hầu như bị bác bỏ trong sáng tác của một số nhà văn khác, nhất là các nhà văn tiếp tục xu hướng hiện thực chủ nghĩa (Ch.P.Snow, Angus Wilson, F. Mauriac, W. Koeppen). [1, tr.122-123]

Có thể thấy, “Dòng ý thức” là một phương pháp sáng tạo văn học tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, những xúc cảm, những liên tưởng ở con người. Bút pháp “Dòng ý thức” có nghĩa là người thuật chuyện thể hiện lại dòng ý thức của nhân vật bao gồm những ý nghĩ, liên tưởng, cảm xúc liên tục đan xen vào nhau và chuyển động liên miên tiếp nối như một dòng nước chảy.

“Dòng ý thức” và độc thoại nội tâm thuộc phạm vi ngôn từ của nhân vật. Độc thoại nội tâm được biểu hiện một cách trực tiếp chẳng những do lời phát ngôn được đặt ở ngôi thứ nhất (ta) hoặc ngôi thứ hai mà còn do giọng điệu và từ vựng của nhân vật đi thẳng vào văn bản.

Dù “Dòng ý thức” có phần tương tự với độc thoại nội tâm (Interior monologue) và người ta thường hay nhầm lẫn giữa hai thủ pháp này, thật ra độc thoại nội tâm có một điểm hoàn toàn khác biệt, do cú pháp tương đối có cấu trúc của nó và khả năng cho phép người độc thoại trực tiếp nói với chính mình (thường ở thì hiện tại). Còn ở “Dòng ý thức”, người thuật chuyện thường đứng ở vị trí kẻ quan sát thứ ba, cấu trúc cú pháp và trình tự thời gian bị đẩy tới một mức độ hoàn toàn hỗn loạn.

“Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro” là một trong những sáng tác thời kỳ đầu của Hemingway mà ở đó, thủ pháp “Dòng ý thức” được biểu hiện rõ nhất. Những trang viết luôn được xen lẫn hồi tưởng và tâm tư của Harry mà biểu hiện rõ nhất chính là hồi ức, là suy nghĩ của anh. Những suy nghĩ “tràn” ra trên những trang viết.

Câu chuyện không đi theo một tuyến thời gian nào mà chỉ diễn ra theo những suy nghĩ và tâm tưởng của Harry. Đầu tiên là những trận cãi vã giữa Harry và người tình, sau đó là những hồi ức. Hãy xem đoạn văn sau mở đầu bằng những đối thoại, sau đó là dòng chảy của ý thức tái hiện trong đầu Harry:

“- Anh đừng uống cái ấy, -nàng nói. -Anh yêu, xin anh đừng uống cái ấy. Chúng mình phải làm tất cả những gì chúng mình có thể làm.

– Để cô làm, -hắn nói. -Tôi mệt chán rồi.

Giờ đây, trong tâm trí hắn, hiện lên một cái ga xe lửa ở Karagatch, hắn đang đứng với bọc hành lý và đèn pha đằng đầu tàu Simplon.”

[5, tr.338]

Đôi lúc, người ta bắt gặp những độc thoại nội tâm của nhân vật Harry: “Gì vậy nhỉ? Một bản liệt kê các sách cũ chăng? Mà tài năng của hắn là gì mới được chứ? Thì đúng là hắn có tài thực, nhưng đáng lý sử dụng nó thì hắn lại đem buôn bán nó.” [5, tr.345]

“Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro” được xem như một trong những sáng tác thành công nhất của Hemingway về bút pháp “Dòng ý thức”. Những đoạn văn in nghiêng trong tác phẩm được ví như những dòng tâm tư, những suy nghĩ của nhân vật Harry được tuôn chảy, được trải rộng trước mắt người đọc. Thủ pháp này một mặt vừa như một cách tân nghệ thuật, mặt khác lại giúp người đọc khám phá tầng sâu của suy nghĩ, của vô thức trong nhân vật Harry. Sỡ dĩ nói “Dòng ý thức” như một biểu hiện của vô thức, vì vô thức thuộc về những suy nghĩ, những cảm nhận và những ký ức con người không thể nắm bắt hay lý giải, không thể sắp xếp hay cố gắng đặt điều đó vào một trật tự nhất định mà chỉ có thể cảm nhận, chính vì vậy, việc sử dụng thủ pháp “Dòng ý thức” sẽ giúp cho bề sâu của vô thức, của những suy nghĩ còn giấu kín bên trong nhân vật Harry được biểu hiện một cách chân thực và rõ ràng nhất.

Mối liên hệ giữa nguyên lý “Tảng băng trôi” của Hemingway và vô thức trong phân tâm học Freud

Phân tâm học Freud là học thuyết tâm lý học về vô thức. Trong đó, phân tâm học xem hoạt động sáng tạo nghệ thuật như biểu hiện sự thăng hoa (Sublimation) của những xung lực tâm lý khởi thủy và của những ham muốn bị thực tại bác bỏ, phải bù lại bằng cách tìm sự thỏa mãn ở lĩnh vực huyễn tưởng. Phân tâm học vạch ra sự thực hành những ham muốn vô thức của mình, sự xung đột bi kịch của ham muốn ấy. Phân tâm học của Freud nhắm vào quá trình sáng tác để phơi bày cái uẩn khúc về tiểu sử của hoạt động nghệ thuật. Sáng tạo nghệ thuật thực chất là sự trình bày ham muốn một cách có nghệ thuật. Xét đến cùng, đó là sự thoát ra vô thức.

Vô thức là vấn đề chính trong phân tâm học của Freud. Đó là những sự kiện tâm linh cá nhân, chìm khuất trong góc tối của tâm hồn và không bao giờ biểu hiện, không thể dùng ý chí để điều khiển được. Nó là động cơ tiềm ẩn, có khi trở nên mãnh liệt, thôi thúc hành động đến mức không kiểm soát được, không hợp với lý trí. Vô thức được ví như phần chìm của tảng băng tâm linh, góp phần quyết định trong việc hình thành các khuynh hướng của mỗi cá nhân. Trong vùng vô thức liên tục diễn ra cuộc đấu tranh giữa bản năng với bản ngã, bản năng sẽ bị dồn nén lại trong hàng rào kiểm duyệt (Censure) không cho vượt qua lên tầng ý thức được. Nên những xung lực này chỉ biểu hiện phần nào trong các giấc mơ và phần lớn trong các chứng loạn thần kinh (Névroses). Vô thức nằm ở đáy sâu tăm tối của tâm linh nên không thể thực nghiệm và không thể khảo sát được bằng các trắc nghiệm.

S. Freud là người đầu tiên khảo sát vô thức bằng phép liên tưởng tự do dựa trên quan sát thực tế. Ông đã đóng góp rất lớn cho tâm bệnh học, giúp con người hiểu thêm về mình, về người khác, và cách hóa giải các xung lực bằng phân tâm (còn gọi là Tâm lý chiều sâu).

Trong “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro”, phân tâm Harry hay nói chính xác hơn là vô thức của nhân vật này được thể hiện rõ nét qua 7/8 của nguyên lý “Tảng băng trôi”.

Vậy nguyên lý “Tảng băng trôi” là gì? Nó có mối liên hệ với vô thức trong phân tâm học Freud như thế nào?

Hemingway đã từng ví lối viết của mình với những tảng băng trôi: “Trong lối viết văn của tôi, chỉ có một phần tám là ngôn từ, bảy phần tám còn lại là chìm dưới nước và độc giả phải tự tìm hiểu ẩn ý của những ngôn từ đó”.

Như vậy, nhân vật trong sáng tác của Hemingway một mặt như nỗ lực gắn với cuộc đời, với hành động, mặt khác như đang một mặt đối diện với chính mình và ra sức tìm kiếm một giá trị tinh thần như tìm kiếm một cơ may tự khẳng định sự tồn sinh. Nghĩa là nhân vật ấy như đang một phần sống với các quan hệ nhân sinh còn phần lớn khác thì như đang giấu đi và đang tìm kiếm.

Nguyên lý “Tảng băng trôi” giúp tạo mạch ngầm cho văn bản. Ngoài ra, đó còn thể hiện mô hình quan niệm về con người thời đại và thế giới hiện tồn:

• 1/8 con người bày tỏ với cộng đồng.

• 7/8 con người che giấu đi, tìm kiếm giá trị cuộc sống.

Vô thức trong nhân vật Harry đã phần nào được người đọc hiểu rõ hơn nhờ vào những lý thuyết về vô thức trong phân tâm học của Freud. Vô thức trong phân tâm học của Freud giúp chúng ta dễ dàng lý giải những tâm thức con người ẩn chứa trong đời sống tâm hồn của nhân vật Harry trong “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro” dựa trên những sự kiện tâm lý, tinh thần của nhân vật để có thể xem xét những khía cạnh hiện thực ám ảnh và những chấn thương tinh thần của Harry. Vô thức trong nhân vật Harry qua Hemingway trở thành đối tượng miêu tả, nhờ đó làm nổi lên tâm lý sâu xa trong cá nhân con người.

Kết luận

Việc nghiên cứu Phân tâm học và vận dụng vào một tác phẩm cụ thể là một trong những hướng nghiên cứu mới trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, đề tài với mong muốn khám phá chiều sâu vô thức trong tác phẩm “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro” phần nào sẽ có đóng góp trong việc áp dụng kỹ thuật phê bình văn học mới này. Trong quá trình nghiên cứu, có thể đề tài còn vướng phải những ý kiến chủ quan, thế nhưng, người thực hiện đề tài vẫn mong muốn sẽ có những đóng góp cho phê bình và nghiên cứu Phân tâm học trong văn học nghệ thuật tại Việt Nam.

ĐHKHXH&NV

nguồn: https://ivivi.vn/tuyet-tren-dinh-kilimanjaro-the-snows-of-kilimanjaro-cua-ernest-hemingway

 

Về tác phẩm “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro” (The Snows of Kilimanjaro)

Kết quả hình ảnh cho The Snows of Kilimanjaro by Ernest Hemingway

Năm 1933, trong chuyến du lịch châu Phi, Ernest Hemingway đã đến Tanganyika (phần đất liền của Tanzania ngày nay) săn bắn. Vẻ đẹp hoang dã, nguyên thủy của Kilimanjaro ngay lập tức cuốn hút nhà văn đang khát khao tự do, khát khao đi tìm ý nghĩa cuộc sống đích thực. Ba năm sau, truyện ngắn “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro”ra đời và nổi tiếng khắp thế giới. Cái tên Kilimanjaro trở nên thân thuộc với độc giả yêu văn học.

Kilimanjaro nằm ở vùng giáp ranh giữa hai quốc gia Tanzania và Kenya, phía nam xích đạo, được mệnh danh là “Nóc nhà của châu Phi”, một trong bảy ngọn núi cao nhất thế giới. Kilimanjaro có ba đỉnh: Kibo, Shira và Mawenzi. Đỉnh Kibo cao 5.898 mét so với mực nước biển, nằm ở chính giữa; bên cạnh là ngọn Mawenzi cao 5.149 mét và thấp hơn nữa là Shira cao 3.962 mét.

Hemingway tìm đến một không gian xa xôi và hùng vĩ ở tận châu Phi với “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro”. Tác giả chỉ trình bày một lát cắt rất mỏng trong cuộc đời nhân vật Harry-những giờ khắc sống cuối cùng của một nhà văn với cái ý thức sâu sắc về sự thất bại không thể cứu vãn được trong văn nghiệp của mình. Qua đó, Hemingway đã nói lên được rất nhiều điều. Hình ảnh núi Kilimanjaro tuyết phủ là một biểu tượng mang cảm hứng thẩm mỹ dồi dào mà tác giả đã gửi gắm vào đó những ước vọng một đời của nhà văn. Trong các truyện ngắn của Ernest Hemingway thường xuất hiện một thứ “ngôn ngữ đối thoại” nổi tiếng-ngắn gọn, cô đọng, chỉ viết những gì tinh chất nhất. Hemingway thật sự là một nhà văn lớn vì sự giản dị của ông đã được sắp xếp cẩn thận lạ lùng.

Tóm tắt tác phẩm

Harry một nhà văn trẻ nhưng anh không mấy thành công trong sự nghiệp viết lách của mình. Chàng từng nghiện cờ bạc và thua sạch tài sản trong một sòng bạc. Harry quen với nhiều dạng phụ nữ và thường thì những người phụ nữ chàng quen sau này giàu hơn trước rất nhiều. Người chàng đang quen bây giờ là một người đàn bà trung niên, có chồng và 2 con nhưng chồng không may qua đời, những đứa con thường tỏ ra không cần người phụ nữ ấy. Ít lâu sau đứa con trai đầu cũng bị tai nạn và chết. Giờ đây, nàng là một người đàn bà giàu sụ và sẵn sàng làm bất cứ những gì Harry muốn. Nàng là một người đàn bà khiếm nhã và lịch sự. Nàng luôn luôn tử tế với chàng dù chàng vẫn thường hay thiếu khiếm nhã với nàng.

Trong một đợt đi du lịch ở Kilimanjaro ở Phi châu, chàng và nàng đã bị kẹt lại trên đỉnh núi do thiếu nhiên liệu. Một lần đi săn, chàng đã bị thương. Giờ đây, chân chàng đang bị hoại tử và chàng đang trong tình trạng chết mòn. Còn nàng, mỗi ngày vẫn tin tưởng ngày mai sẽ có trực thăng đến và đưa hai người về, chân chàng rồi sẽ được chữa trị khỏi. Cuộc sống nơi này khiến chàng bắt đầu ý thức sâu sắc về những đạo lý trong sự nghiệp viết văn của mình và giá trị thật sự của cuộc sống. Chàng dần cảm nhận được cái chết đang ở quanh mình, nó đang sắp đến gần với mình.Tối hôm sau khi nói chuyện với nàng xong, chàng đã dần đi vào giấc ngủ. Trong giây phút ấy, một thoáng hy vọng đã vụt tới với chàng, chàng đã nhìn thấy trực thăng đưa chàng đi nhưng địa điểm lại là ngọn núi chàng đang bị kẹt lại.Vĩnh viễn trong giấc ngủ ấy, chàng không bao giờ trở lại nữa, để lại cho nàng sự đau khổ và cô đơn.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

sixteen − thirteen =