Trang chủ Lưu Trữ Tin Hoạt Động TVTL Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh

0
1289

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Tôi tin vào bộ lọc mầu nhiệm của văn hóa

Văn Chinh (thực hiện) – 10-11-2014 03:00:50 PM

 VanVN.Net – Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: “Văn chương quý ở chỗ phải đi đến cái thật hoàn thiện. Được cái này thường lại mất cái kia. Anh cố cho tư tưởng nghệ thuật uyên áo sâu sắc thì lại mất cái chân thực hồn nhiên của cuộc đời. Anh cố đi vào tìm tòi hình thức thì lại mất cái nhung nhụy của tư tưởng nghệ thuật. Không đổi mới, không mới lạ thì bạn đọc chán anh; đổi mới tung tóe ra mà bạn đọc không hiểu nổi thì người ta cũng chán anh nốt. Tôi thấy các cháu trẻ tuổi bây giờ háo hức với các/những tân kỳ nhưng rồi cũng lại bế tắc mà thôi.”

 

 

– Thưa ông, văn chương khó thế nào và vì sao lại khó?

– Văn chương quý ở chỗ phải đi đến cái thật hoàn thiện. Được cái này thường lại mất cái kia. Anh cố cho tư tưởng nghệ thuật uyên áo sâu sắc thì lại mất cái chân thực hồn nhiên của cuộc đời. Anh cố đi vào tìm tòi hình thức thì lại mất cái nhung nhụy của tư tưởng nghệ thuật. Không đổi mới, không mới lạ thì bạn đọc chán anh; đổi mới tung tóe ra mà bạn đọc không hiểu nổi thì người ta cũng chán anh nốt. Tôi thấy các cháu trẻ tuổi bây giờ háo hức với các/những tân kỳ nhưng rồi cũng lại bế tắc mà thôi.

– Tôi có anh bạn nhà thơ trẻ, anh Nguyễn Hữu Hồng Minh. Minh có lần than thở rằng làm thơ mà bạn đọc không thuộc nổi thơ mình là thua.  

– Tự thức tỉnh được sớm như vậy thì rồi còn có cơ để chờ đợi. Cho đến một thời điểm nào đó, thiên tài sẽ xuất hiện; anh ta sẽ tổng hợp trên cái nền tung tóe kia, sắp xếp nó đâu vào đấy.

– Người ta đang bàn về hậu hiện đại, giải đại tự sự, giải trung tâm, để đưa cái bên lề vào chiếm chỗ…Tôi có nói lại về quá trình giải Hán hóa, về đạo thờ Mẫu, thờ thần tự do yêu đương và hôn nhân của Đại Việt. Nhưng có lẽ ông có đủ thẩm quyền hơn để nói về chúng?

– Giải Hán hóa là việc đời đời, ngày ngày của Đại Việt. Cái khó là vừa phải hấp thu tinh hoa của Hoa hạ vào mình, chọn lọc bằng tâm thức dân tộc để vừa bổ sung vi chất nhưng lại phải chống lại, chống lại thường trực để không bị đồng hóa, không bị biến mất. Vì chúng ta, cho đến thế kỷ XII, XIII, chúng ta chỉ có duy nhất một cửa sổ nhìn ra phương Bắc. Mà không giao thoa tiếp biến thì văn hóa cũng thui chột, trầm trẩm đi.

– Tôi hiểu, thưa ông cựu sinh viên đại học Y, rằng người Việt mình quen ăn gạo và rau cỏ, nên sức yếu. Cần ăn thêm cá thịt, nhưng ăn cá thịt thì lại bị nóng gan. Nên cần bổ sung Boganic – cần cơ chế giải độc gan, cần cho mỗi ngày?

– Đúng vậy đấy. Ông vua cuối nhà tiền Lê ác quá, róc mía đầu sư, đó là chứng ăn thịt quá nhiều. Chứ người Việt mình, có ác cũng ác kiểu khác. Vì vậy, nên các ông vua nhà Lý, nhà Trần đánh Tống, đánh Nguyên và bình Chiêm xong thì lấy lại cân bằng cho tâm tính người mình bằng Phật, Lão.

– Các minh quân và danh tướng Lý Trần vừa đánh giặc rất giỏi vừa làm thơ rất tài, có lẽ cũng là phép cân bằng âm dương?

– Đúng. Vua Trần Nhân Tông còn đi xa hơn phép cân bằng tâm tính, là tìm cho đất nước một tư tưởng, có tư tưởng độc lập thì mới nói đến độc lập dân tộc được. Xét riêng về điểm này, vua Trần Nhân Tông hiện đại trước thời của mình cả ngàn năm. Xưng “chư hầu” chỉ là phép xử thế, để “thiên triều” để yên cho nền độc lập của mình. Đọc bức thư ngoại giao xin Kinh Đại tạng của vua Trần Nhân Tông gửi nhà Nguyên, với lời lẽ mềm mỏng đầy tôn kính nhưng nội dung lại nói rằng “do mới rồi có đại binh đến mà kinh Phật bị thiêu cháy hết cả” mới thấy Ngài thật vĩ đại, ngang ngửa và tấn công trực diện. Anh mang đại binh sang nước tôi, đốt đến cả kinh Phật thì còn ra cái giống gì nữa? Vì anh đốt nên tôi mới phải xin. Và xin để bầy tỏ một hòa hiếu bang giao. Có thể thấy rõ, xin kinh Phật chỉ là cái cớ, chứ làm gì mà không tự khắc tự in lấy được? Chỉ tiếc rằng, Phật Hoàng không tự trước tác lấy tư tưởng của mình, chỉ mang chính thân xác mình làm một triết lý sống; mang chính mình làm một pho sách thì có người đọc hiểu, có người không, nên sự phát huy tư tưởng đó, làm giầu có tư tưởng đó còn có lúc có lúc không, khi trầm khi bổng.

Thế nên Hồ Quý Ly mới có cơ trở thành người tổng hợp kết tinh tư tưởng Lý Trần. Bài học mất ngôi của nhà Lý là do quá suy tôn đạo Phật. Nhà Trần, vào thời thịnh trị nhất giữ được tam giáo đồng nguyên, giữ Nho vừa phải làm rường mối kỷ cương, tôn Phật vừa phải để tích thiện và vừa phải với Lão để an nhiên tinh thần, hương thôn vui vẻ, xóm làng hòa thuận tôn ti. Ấy là phép trị quốc khôn ngoan vậy.

Hồ Quý Ly tiến hành cải cách Nho, thực ra là Việt hóa Nho để ức chế Phật Lão với mục đích chấn hưng dân tộc. Ông trước tác cuốn Minh đạo, dùng cốt lõi tri thức Khổng tử, trên tinh thần lược bỏ tính thắt ngặt của nó, phê phán tính không tưởng phản động của nó, làm một Đạo riêng của Việt Nam mà ông gọi là Minh Đạo.

Thực ra, tư tưởng và ý thức dân tộc của Hồ Quý Ly trước hết vấp phải đặc quyền của giới quý tộc nhà Trần. Họ, vốn sẵn mối nghi ngờ kẻ ngoại tộc, lại bị tước bớt ruộng đất do chính sách canh tân hạn điền hạn nô của ông. Dân chúng cũng chưa được lợi lộc gì, mới chỉ từ nô tỳ thành “quan nô”. Nhưng, mối hiềm khích bị chặn lại bởi vua Trần Nghệ Tông, chính Trần Nghệ Tông nhìn thấu cái rệu rã bên trong Hoàng tộc, sự rệu rã khiến sự nghiệp vinh hiển lẫy lừng rơi vào tay con nhà phường chèo Dương Nhật Lễ; vua cũng không thể không nhìn thấu nhẽ kết tinh Lý Trần, đặc biệt là bậc tiền bối Trần Nhân Tông của ngài trong sách Minh Đạo, nên trao quyền lực vào tay Hồ Quý Ly với chỉ rất ít nghi ngại. Vì thế mà xẩy ra cuộc binh đao khởi nghĩa của các cựu thần nhà Trần kết hợp cùng Hoàng tộc bất thành. Sau mới là cái cớ trực tiếp để nhà Minh dấy binh.

– Mặt khác, Trần Nghệ Tông cũng không thể không nhận ra cái hậu quả của hôn nhân cận huyết. Ngài không thể không nhận ra phép so sánh giữa trung thành với đạo luật tổ tiên mà kết quả là họ Dương lẻn vào Hoàng tộc và nguy cơ mất ngôi mất nước đã nhãn tiền với bên này là Hồ Quý Ly đầy ý thức tự cường, tạo nên sức mạnh cận vệ Hoàng tộc suốt mấy mươi năm ông ta làm cánh tay phải cho ngài cũng tức là  cho nhà Trần?

– Có lẽ. Và nhà Minh đánh ta chính là đánh vào ý thức tự cường dân tộc ấy. Trong hịch chính thức bố cáo lý do đánh Đại Việt, Minh Thành Tổ nói đánh Hồ Quý Ly để khôi phục họ Trần. Nhưng đoạn sau đây mới là lý do đích thực: …“Họ Hồ coi đạo của mình hơn cả Tam Vương, đức cao hơn Ngũ Đế, cho Vũ, Thang, Văn Vương, Vũ Vương không đủ để noi theo, Chu Công Khổng Tử không đáng làm thầy mình, giễu Mạnh Tử là nhà Nho ăn cắp, nhạo Chu (Đôn Hi) Trình (Hiệu, Trình Di) Trương (Tải) Chu (Hy) là phường trộm cướp…” Đó cũng là lý do để Minh Thành Tổ có mật chỉ hẳn hoi, là tàn phá mọi di chỉ văn hóa văn minh, những gì được tạo nên bởi trí tuệ Đại Việt “thì phá sạch hết thảy, một mảnh một chữ không để còn.” Y còn sai quan binh tìm cột đồng trụ do Mã Viện dựng đâu đó từ thời nhà Hán để “đập tan tành, vứt ra đường cho người người biết được.” Đó là tham vọng biến Đại Việt thành quận huyện của y.

 – Thưa ông, khi Lê Thái Tổ băng, triều đình sau ngài lại chọn tư tưởng Nho giáo làm quốc giáo; chọn nhã nhạc cung đình y hệt nhạc nhà Minh. Có lẽ đó cũng còn là nỗi ám ảnh về một chọn lựa bất thành của Hồ Quý Ly cùng hệ lụy của nó

Chiến công quân quốc sự và văn hóa dân tộc đôi khi là các vectơ lực không cùng phương và chiều.

– Vâng, rõ nhất là ở cuộc giải Hán hóa lần thứ ba khi hai phần ba đất nước nằm trong vòng thuộc Pháp. Nhà Nguyễn theo Nho giáo đến mức triệt để, đến mức “bảo hoàng hơn vua” khi mà ở Trung Quốc, cuộc “tân thư” đã được chuẩn bị từ lâu và đã nổ ra cuộc cách mạng Tân Hợi (1911.)

– Nhà Nguyễn đúng là bảo hoàng hơn vua thật, đến cấm cả quần không đáy thì quá tệ. Đi sau cái đội quân thực dân hung tàn, may mắn thay lại là cái văn minh văn hóa châu Âu sau Thế kỷ Ánh sáng. Chính nó và vì Trung Quốc cũng đang theo đuổi tân thư đã giúp dứt hẳn cái họa làm một nước chịu phận phong của phương Bắc với rất nhiều hệ lụy và tồn tại dai dẳng một nguy cơ Hán hóa. Khi vào Việt Nam, ý thức quốc gia dân tộc của văn hóa Âu châu đã rất rõ rệt, đã trở thành giá trị của mọi giá trị. Tôi đang nói về hai cái vectơ ngược hướng giữa chiến công quân quốc sự với văn hóa dân tộc, mà Phạm Quỳnh là một ví dụ điển hình. Về mặt gia thế, ông là con một nhà Nho học lâu đời, bản thân về sau có làm quan cho nhà Nguyễn, học tiếng Pháp với ý đồ trở thành thông phán cho Tây; như thế, về mặt ý thức hệ, ông là người hợp tác với kẻ thù. Nhưng về mặt văn hóa, ông có công đóng góp trong quá trình phát triển ngôn ngữ nước nhà. Soạn giả Dương Quảng Hàm, trong Việt Nam văn học sử yếu viết về Phạm Quỳnh: “(ông) Luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới.”

Tiếng Việt trở nên giầu có hơn, trong sáng hơn khi được Roman hóa chữ viết và được giao thoa với tiếng Pháp trên nền tảng là thuần Việt và Hán Việt. Để tiến tới một chuẩn tiếng Việt hàn lâm sau 1945 sẽ còn có nhiều trung tâm nữa, như Ban Văn Sử Địa, Viện Văn học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hội Nhà văn… nhưng trước hết phải kể là trên Tạp chí Nam phong do ông làm chủ bút.  Có thể nói, Nam phong là một góc, cùng với các góc kia là Thơ Mới, là Văn xuôi tự lực văn đoàn và Văn xuôi hiện thực phê phán dưới ánh sáng Mácxit là các vectơ lực khác nhau tạo nên sức sống mới cho tiếng Việt. Nó vô hình, là tài sản chung, là của chùa nên ít người để ý, chứ nó là công cụ tư duy kia mà! Và tư duy, lý luận là ánh sáng dẫn đường cho dân tộc. Chính vì vậy mà Phạm Quỳnh nói “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn.”

– Nhưng chúng ta đang nói về câu chuyện cưỡng hôn văn hóa, tự nó khiến nhắc đến cuốn “Mẫu thượng ngàn” của ông. Thưa ông, ông viết về cuộc cưỡng hiếp văn hóa trong đó thật hay. Nhưng cũng có một tình yêu đẹp giữa cô gái Việt và một cậu chủ đồn điền người Pháp? Xin hãy nói về nó?

– Nó là thằng chủ đồn điền Julien, yêu cô Mùi, yêu lắm, mê mệt. Và nó có căn nguyên. Người phương Tây và nhất là người Pháp, họ thích một đời sống tình cảm tự nhiên, phóng túng; cái đó nó hợp với người mình. Nó là hệ quả của chế độ Mẫu hệ kéo dài nhưng về sau, người ta phát hiện ra chính nó lại là sức mạnh để chống lại chế độ Phụ quyền từ phương Bắc. Mà Mẫu hệ thì tính nữ, cái đẹp làm tâm hồn người vui vẻ, nhân ái.

– Thưa ông, chúng ta còn một câu chuyện nữa, câu chuyện về Thủ đô Hà Nội.

– Tôi quê cha trên Cổ Nhuế, đất đang ở đây là quê mẹ. Quả là có được chứng kiến quá trình đô thị hóa của Hà Nội. Nhà ngoại tôi trước ở trên phố Huế, thế kỷ trước nữa nó là thôn Giáo Phường (có đình thờ ông tổ hát Ca trù) sang thế kỷ XX, do nó là cửa  phía Nam nối Hà Nội với con đường thiên lý vào Huế, nên Pháp đặt là  route de Hue, sau 1954 mới chính thức là phố Huế. Hồi đầu thế kỷ trước, nó bị cháy cả phố, nghe đồn là Pháp cho người đốt, để buộc dân phải bán rẻ đất cho nhà thầu; sau khi nhà bị cháy, nhà ngoại tôi mới mua đất về đây. Làng Thanh Nhàn khi đó hồ ao nhiều vô kể. Xung quanh đây là nhà của các ông ký ông phán, công nhân nhà máy đèn, phu hồ thợ ngõa thợ thủ công… Hồi Hà Nội bị tạm chiếm, tôi đang học Y khoa, mãi về sau mới đi bộ đội nên được chứng kiến cảnh di dân tự do để tránh bom đạn. Hồi cải cách ruộng đất ở nông thôn, tôi lại chứng kiến đợt di dân nữa ra Hà Nội. Các ông tuần ông phủ có dinh cơ ruộng đất ở quê bỏ của chạy lấy người mà thoát nạn. Con cái các nhà địa chủ cũng chạy lên, vừa làm thuê vừa đi học. Gia đình giáo sư Nguyễn Đổng Chi thuê nhà ở ngay đình Thanh Nhàn đây, bà thủ đình chiếm đất xây nhà cho thuê, anh em Nguyễn Huệ Chi lớn lên ở đó.

Các đợt di dân, do tự phát hay khi Nhà nước chủ trương bổ sung nhân lực, cán bộ hay công nhân viên chức, nếu phân loại ra thì có ba thành phần:

Các gia đình khá giả, họ mang tiền của xây nhà dựng phố, họ cũng mang lên Hà Nội nề nếp gia phong của người Việt cổ điển vừa góp vào văn hóa phố phường thanh lịch vừa hưởng thụ nó, nuôi dưỡng nó. Nói một cách khác, chính cái văn hóa Đại Việt mà họ mang ra từ nông thôn, đã phối trộn với văn hóa cố đô để làm nên tinh hoa Hà Nội với ít nhiều gia giảm cái đô thị phương Tây.

Các gia đình lao động thuần túy đến ở Hà Nội bằng hàng rong, xích lô, xe ôm ngày càng đông đảo. Một số, ít thôi, trong số họ sẽ vượt lên có sản nghiệp, họ cũng giúp làm nên sức vóc một Hà Nội mỗi ngày mỗi mới. Như bố con nhà kia ở ống cống mà con thi vào đại học đỗ thủ khoa; những người như thế sẽ bổ sung cho Hà Nội một phần của đẳng cấp; nhưng phần nhiều họ mang đến Hà Nội cái nhếch nhác, luộm thuộm, khiến nó bị nhà quê hóa.

Nhưng tôi luôn tin tưởng rằng, Hà Nội là bộ lọc khổng lồ, nó sẽ tự mình thu xếp để sau mỗi quá trình sẽ lại có một diện mạo thanh lịch mới.

Văn hóa, văn học cũng kết tinh theo quy luật như với Hà Nội. Sau cú va đập lịch sử vào năm 1883, năm Pháp chiếm Hà Nội, 50 năm sau chúng ta có hàng loạt sự kiện văn học: Thơ Mới, Văn xuôi Tự lực văn đoàn và Hiện thực phê phán với những tên tuổi sẽ còn lại mãi mãi với văn học sử Việt Nam. Vậy thì cứ cho rằng văn chương ta bây giờ nhiều cái đang tung tóe lệch chuẩn đi, nhưng tôi vẫn tin rằng độ 30 năm nữa, vì chúng ta bắt đầu  hội nhập “chơi” với cả thế giới từ hơn 20 năm trước, độ 30 năm nữa, nhất định thiên tài sẽ xuất hiện.

0 BÌNH LUẬN