Trang chủ Điểm Sách Sách theo chủ đề Hạnh phúc hơn (giới thiệu cuốn Happier)

Hạnh phúc hơn (giới thiệu cuốn Happier)

0
1133

Hạnh phúc hơn

Tal Ben-Shahar, Ph.D

TS. Dương Ngọc Dũng, Nhà xuất bản tổng hợp Tp. HCM

04:11′ PM – Thứ tư, 26/02/2014

Trong cuộc sống, mỗi người đều có mục tiêu chung là được hạnb phúc; cuộc sống của mỗi người khác biệt nhau nhưng cũng giống nhau.

-Anne Frank

Năm 2002, lúc khởi đầu, tôi dạy một lớp nghiên cứu chuyên đề về tâm lý học tích cực tại trường đại học Harvard. Trong tám sinh viên theo học có hai người bỏ dở chừng. Mỗi tuần, chúng tôi cùng nhau nghiên cứu và dần dần nhận rõ hơn điều tôi tin là sẽ trở thành vấn đề của các vấn đề: đó là làm thế nào chúng tôi có thể giúp mình và những người khác (gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội) trở nên hạnh phúc hơn? Chúng tôi đã đọc các tờ nhật báo mang tính chất học thuật, tham khảo những tư tưởng đã qua thử nghiệm, những câu chuyện riêng cùng chia sẻ, nỗi thất vọng cũng như niềm vui thích từng trải qua. Đến cuối năm, chúng tôi có sự thông hiểu rõ hơn rằng tâm lý học có thể hướng chúng tôi tới cuộc sống hạnh phúc hơn và thỏa nguyện hơn.

Một năm sau đó, lớp học mở rộng quy mô dưới hình thức diễn thuyết. Người thầy thông thái Philip Stone, người đầu tiên vỡ lòng cho tôi về lĩnh vực này và cũng là vị giáo sư đầu tiên dạy môn tâm lý học tích cực tại Harvard, đã khuyến khích tôi mở một khóa diễn thuyết về đề tài này. Ba trăm tám mươi sinh viên đăng ký học. Trong bảng đánh giá vào cuối năm học, hơn 200% sinh viên đăng ký học ghi nhận là “khóa học đã nâng cao chất lượng cuộc sống của họ”. Sau đó, tôi lại mở một khóa học tiếp theo, lần này có 855 sinh viên đăng ký học. Đây là lớp học đông sinh viên nhất tại Harvard.

William James, nhà tâm lý học và triết học chủ nghĩa thực dụng tiên phong người Mỹ cách đây hơn một thế kỷ, đã giúp tôi không bị lạc lối khi nhắc nhở tôi hãy giữ vững tính thực tế và tìm kiếm “giá trị tiền mặt của sự thật trong các khóa học theo kinh nghiệm”. Thuật ngữ “giá trị tiền mặt” ở đây không phải là loại tiền hiện hữu mà là tiền thành công, và tôi gọi chung là cùng đích, là đích đến dẫn chúng ta đến: hạnh phúc.

Lớp học này không đơn thuần dạy lý thuyết về “một cuộc sống tốt đẹp”. Ngoài việc đọc các bài báo và học hỏi các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực này, các sinh viên theo học còn phải áp dụng chúng vào thực tế. Họ đã ghi ra những nỗi sợ hãi phải vượt qua và suy ngẫm các ưu điểm của mình, thiết lập các mục tiêu đầy tham vọng cần đạt được trong mỗi tuần và trong một thập niên sắp tới. Họ được khuyến khích dám chấp nhận rủi ro và tìm kiếm vùng giãn nở (vùng yên ổn ở giữa vùng thoải mái và vùng hoảng loạn).

Riêng tôi, không phải lúc nào tôi cũng có thể tìm được vùng yên ổn. Là một người sống nội tâm và khá nhút nhát, tôi cảm thấy rất thoải mái khi lần đầu tiên giảng dạy cho lớp nghiên cứu chuyên đề về tâm lý học tích cực chỉ có sáu sinh viên. Vì vậy, tôi đã gặp thử thách lớn khi diễn thuyết trước đám đông gần bốn trăm sinh viên vào năm sau đó. Đến khi lớp học mở rộng quy mô lên gấp đôi, đến hơn tám trăm sinh viên, thì tôi thật sự đã rơi vào vùng hoảng loạn, nhất là lần này có một số cha mẹ, ông bà của sinh viên và cả các phương tiện truyền thông đại chúng cũng bắt đầu dòm ngó đến.

Từ ngày hai tạp chí Harvard Crimson và Boston Globe đưa tin về sự phổ biến của lớp học này, thì tôi liên tiếp bị các câu hỏi tấn công dồn dập. Dường như mọi người có cảm tưởng sắp có một cuộc cải tổ nào đó, nhưng họ không biết chắc chắn đó là gì. Làm thế nào bạn có thể diễn giải được nhu cầu về môn tâm lý học tích cực tại Harvard và tại các trường đại học khác? Tại sao trong các trường tiểu học, trung học và những người trưởng thành lại nảy sinh nhu cầu nghiên cứu về hạnh phúc mạnh mẽ đến thế? Có phải vì ngày nay người ta cảm thấy buồn bực, chán nản và thất vọng hơn không? Có phải cách giáo dục của thế kỷ 21 có vấn đề gì đó không?

Thật vậy, nghiên cứu về hạnh phúc không phải có duy nhất ở phương Tây hoặc cũng không phải là duy nhất ở kỷ nguyên hậu hiện đại ngày nay. Mọi người ở khắp nơi trên thế giới đều không ngừng tìm kiếm con đường dẫn đến hạnh phúc. Plato, triết gia người Hy Lạp vĩ đại nhất mọi thời đại, đã cụ thể hóa lĩnh vực nghiên cứu về cuộc sống tốt đẹp tại Academy, được xem là trường đại học đầu tiên của châu Âu. Còn Aristotle, môn sinh xuất sắc nhất của Plato và cũng là nhà triết học và tự nhiên học tiêu biểu nhất và lẫy lừng nhất của nền văn minh Hy Lạp cổ đã lập ra trường Lyceum để truyền bá tư tưởng của mình. Hơn một thế kỷ sau đó, tại một châu lục khác, Khổng Tử đã đi qua nhiều làng mạc để truyền bá tư tưởng của mình. Không một tôn giáo lớn nào và không một tư tưởng triết học toàn diện nào bàng quan với vấn đề hạnh phúc, dù là hạnh phúc trên trần gian hay hạnh phúc ở thế giới bên kia.

Cuộc sống tốt đẹp vượt qua thời gian và không gian. Trong thời đại ngày nay, có những lĩnh vực giúp diễn giải nhu cầu ngày càng cao về tâm lý học tích cực. Tại Mỹ, tỉ lệ trầm cảm ngày nay cao, gấp 10 lần so với thập niên 60 và độ tuổi trung bình dễ bị trầm cảm nhất là 14,5 tuổi so với 29,5 tuổi của năm 1960. Các trường đại học Mỹ đã tiến hành một cuộc nghiên cứu và nhận thấy rằng gần 45% sinh viên “bị trầm cảm đến nỗi gặp khó khăn về chức năng”. Một số nước khác đi theo dấu chân của nước Mỹ. Năm 1957, tại Anh quốc, 52% người dân cho biết họ rất hạnh phúc, so với 36% năm 2005 – dù thực tế cho thấy người dân Anh quốc giàu có hơn gấp ba lần so với hơn nửa cuối thế kỷ trước. Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế Trung Quốc cũng tỉ lệ thuận với tốc độ tăng nhanh số lượng người lớn và trẻ em mắc chứng lo âu và trầm cảm. Theo Bộ Y tế Trung Quốc: “Ngày nay, tình trạng sức khỏe tinh thần của trẻ em và giới trẻ trong nước thật sự đáng lo ngại”.

Khi đời sống vật chất càng lên cao thì con người lại càng rơi vào trạng thái phiền muộn và chán nản. Dù thế hệ chúng ta đang sống, tại hầu hết các nước phương Tây và phương Đông, đều giàu có hơn các thế hệ cha ông, nhưng chúng ta không tồn được hạnh phúc từ sự giàu có đó. Mihaly Csikszentmihalyi, học giả hàng đầu trong lĩnh vực tâm lý học tích cực, đã đưa ra một câu hỏi đơn giản nhưng rất khó trả lời là: “Nếu chúng ta giàu có đến thế, tại sao chúng ta không hạnh phúc?”

Nếu chúng ta cho rằng khi được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu vật chất cơ bản thì sẽ có được cảm giác thỏa nguyện, thì câu hỏi hóc búa trên rất dễ trả lời. Song trên thực tế, khi các nhu cầu vật chất cơ bản đã được đáp ứng thì chúng ta không còn lời lẽ bào chữa nào cho sự không hài lòng với cuộc sống đầy đủ của mình. Ngày càng có nhiều người tỏ ra hoài nghi với thực trạng ngược đời là: dường như tiền của không mang đến hạnh phúc cho con người, và thế là họ tìm đến sự lý giải của tâm lý học tích cực.

Tại sao là tâm lý học tích cực?

Tâm lý học tích cực, nói nôm na là “ngành khoa học nghiên cứu về hoạt động chức năng tối ưu của con người”, đã được Giáo sư Martin Seligman, Chủ tịch Hiệp hội Tâm lý học Mỹ, chính thức phát triển thành một môn học năm 1998. Trước đó, tâm lý học đại chúng (popular psychology hay pop psychology) là tư tưởng chính trong lĩnh vực nghiên cứu về hạnh phúc giúp nâng cao chất lượng cuộc sống. Vô số hội thảo và sách tu thân (hay còn gọi là sách tự giúp mình), chứa đựng nhiều điều thú vị có sức thu hút và phần nào thể hiện được bản chất của lĩnh vực này. Những cuốn sách tu thân hứa hẹn tạo ra năm bước để dễ dàng có hạnh phúc, ba bí mật dẫn đến thành công và bốn cách tìm được tình yêu hoàn hảo. Tuy nhiên, chúng thường là những lời hứa suông. Kết quả là vài năm sau, người ta bắt đầu hoài nghi về những cuốn sách kiểu này.

Mặt khác, chúng ta có các trường đại học với các công trình nghiên cứu hiện hữu nhưng tầm ảnh hưởng của chúng còn quá hạn hẹp. Có thể tóm lại như sau: tâm lý học tích cực là chiến thắng tính học thuật nghiêm ngặt của các học viện và những điều thú vị của quá trình tự giúp mình. Đây cũng là mục đích của cuốn sách này.

Nhiều cuốn sách tu thân hứa quá nhiều nhưng làm quá ít vì chúng thường dựa vào các thử nghiệm của phương pháp khoa học. Ngược lại, những tư tưởng trong các tờ nhật báo mang tính chất học thuật đã được nghiên cứu bài bản từ khi còn là khái niệm đến lúc xuất bản có giá trị hơn rất nhiều. Nhìn chung, các tác giả của các tư tưởng nói trên không phải là những nhân vật vĩ đại, họ hứa hẹn ít hơn với một lượng độc giả ít hơn nhưng họ lại thực hiện lời hứa của mình.

Những lời khuyên của các nhà tâm lý học tích cực, dù dưới bất cứ hình thức nào như sách, diễn thuyết, website,… đôi khi tương tự những lời khuyên của các tổ sư tu thân. Điều này đơn giản và có thể đạt tới, giống như tâm lý học đại chúng vậy, nhưng nó cũng đơn giản và có thể đạt tới dưới một phương thức hoàn toàn khác biệt.

Oliver Wendell Holmes, vị thẩm phán của Tối cao Pháp viện Mỹ đã bình luận như sau: “Tôi không quan tâm đến tính đơn giản trên khía cạnh phức tạp này, nhưng tôi muốn làm cho cuộc sống của mình thật đơn giản trên khía cạnh phức tạp khác.” Holmes quan tâm đến tính đơn giản sau khi tìm tòi và nghiên cứu, suy nghĩ cẩn trọng và thử nghiệm. Bằng cách đi sâu tìm hiểu, các nhà tâm lý học tích cực đã phát hiện rõ nét về khía cạnh phức tạp khác với các tư tưởng khả thi và các học thuyết thực tế cũng như những kỹ thuật và mẹo đơn giản nhưng hiệu quả. Leonardo da Vinci đã chỉ rõ: “sự đơn giản là đỉnh cao của sự phức tạp”.

Về bản chất của cuộc sống tốt đẹp, các nhà tâm lý học tích cực và các nhà khoa học xã hội và các triết gia đã dành rất nhiều thời gian và công sức để đạt tới sự đơn giản của khía cạnh phức tạp. Trong cuốn sách này, tôi có đề cập đến một số tư tưởng của họ và tôi tin rằng những tư tưởng này có thể làm cho cuộc sống bạn hạnh phúc hơn và thỏa nguyện hơn. Tôi tin điều này vì tôi chính là một minh chứng sống động nhất.

Ứng dụng cuốn sách này

Mục đích của cuốn sách này là giúp bạn hiểu rõ về bản chất của hạnh phúc, và cao hơn là giúp bạn có cuộc sống hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, nếu chỉ đọc cuốn sách này (hay bất kỳ cuốn sách nào khác có cùng chủ đề) thì chưa đủ để làm cho cuộc sống bạn hạnh phúc hơn. Tôi không tin có những con đường tắt mang lại những biến đổi lớn đầy ý nghĩa cho cuộc đời bạn. Nếu cuốn sách này thật sự có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của bạn, thì bạn hãy xem nó như một cuốn sách làm việc. Công việc ở đây gồm suy nghĩ và hành động.

Nếu bạn chỉ chú thích trên nguyên văn cuốn sách thì vẫn chưa đủ mà điều quan trọng là hãy nghiềm ngẫm vấn đề. Xuyên suốt cuốn sách có những chỗ gián đoạn có tiêu đề “Dừng lại để suy ngẫm” với mục đích cho bạn một cơ hội, một lời nhắc nhở để dừng lại suy nghĩ trong vài phút về những gì bạn vừa mới đọc và để nhìn lại bản thân. Nếu không có những chỗ “Dừng lại để suy ngẫm”, thì tôi cho rằng phần lớn nội dung cuốn sách này vẫn còn rất mơ hồ với bạn và sẽ nhanh chóng bị lãng quên.

Bên cạnh những chỗ “Dừng lại để suy ngẫm”, tôi cũng đưa ra những bài tập dài hơn ở cuối mỗi chương với mục đích là gợi lên các suy nghĩ và hành động giúp bạn hiểu sâu vấn đề hơn. Có những bài tập sẽ ảnh hưởng đến bạn nhiều hơn những bài tập khác. Hãy thoải mái tiếp nhận các bài tập và dần dần thực hiện chúng. Tuy vậy, nếu bạn cảm thấy không thoải mái khi thực hiện bất kỳ bài tập nào trong cuốn sách này, thì đơn giản là bạn hãy bỏ qua bài tập đó và đọc tới chương kế tiếp. Tất cả bài tập tôi đưa ra đều dựa trên những tư tưởng hay những tài liệu nghiên cứu tốt nhất của các nhà tâm lý học. Tôi tin là nếu bạn càng đầu tư thời gian và công sức để làm những bài tập trong cuốn sách này nhiều bao nhiêu, thì bạn càng thu được nhiều lợi ích cho cuộc sống của mình bấy nhiêu.

Tôi chia cuốn sách thành 3 phần. Trong Phần 1 từ Chương 1 đến Chương 5, tôi trình bày định nghĩa hạnh phúc và những nhân tố chủ yếu mang lại một cuộc sống hạnh phúc. Trong Phần 2 từ Chương 6 đến Chương 8, tôi chú trọng hiện thực hóa các tư tưởng trong lĩnh vực giáo dục, môi trường làm việc và trong các mối quan hệ. Trong phần cuối gồm 7 suy ngẫm, tôi đề cập đến những tư tưởng về bản chất của hạnh phúc và về tầm quan trọng của nó trong cuộc sống của chúng ta.

Trong Chương 1, tôi bắt đầu bằng cách thuật lại những trải nghiệm của bản thân đã đưa tôi vào con đường nghiên cứu về cuộc sống tốt đẹp hơn. Trong Chương 2, tôi đề cập đến vấn đề hạnh phúc không phải đến từ việc thỏa mãn những mong muốn trước mắt cũng không phải đến từ việc trì hoãn vô hạn định sự thỏa mãn. Hai kiểu mẫu hạnh phúc thường thấy, một là theo chủ nghĩa khoái lạc, nghĩa là người sống chỉ với những điều vui thích trước mắt và hai là chạy theo hạnh phúc tương lai, nghĩa là người trì hoãn sự thỏa mãn trong hiện tại để hướng tới những mục tiêu tương lai, thì không có tác dụng mang lại cuộc sống hạnh phúc hơn cho hầu hết mọi người. Lý do là vì hai kiểu mẫu hạnh phúc trên phớt lờ những nhu cầu cơ bản của con người về những lợi ích trước mắt và sau này.

Trong Chương 3, tôi chứng minh quan điểm tại sao để được hạnh phúc, chúng ta cần tìm kiếm có ý nghĩa và niềm vui, hay nói cách khác là cần có mục tiêu và trải nghiệm những cảm xúc tích cực. Trong Chương 4, tôi cho rằng chúng ta nên xem hạnh phúc, không phải là tiền của hay danh tiếng, mà là cùng đích. Tôi cân nhắc mối quan hệ giữa của cải vật chất và hạnh phúc và tự hỏi tại sao có rất nhiều người bị khủng hoảng về tình cảm và tinh thần trong khi họ có đầy đủ của cải vật chất. Chương 5 liên kết những tư tưởng thể hiện trong cuốn sách này với các tài liệu tâm lý học hiện hữu để giúp thiết lập các mục tiêu trong cuộc đời.

Trong Chương 6, tôi bắt đầu áp dụng lý thuyết này và tự hỏi tại sao đa số học sinh sinh viên không thích đến lớp học. Sau đó tôi nghiên cứu những phương pháp mà các thầy cô giáo và cha mẹ có thể ứng dụng để giúp học trò và con cái mình có được hạnh phúc và thành công trong cuộc sống. Tôi giới thiệu hai cách tiếp cận hoàn toàn khác nhau đến quá trình học là: kiểu nhấn nước và kiểu tạo niềm vui. Chương 7 nêu lên giả định thường thấy là sự cân bằng giữa cảm giác thỏa nguyện bên trong và thành tựu công việc bên ngoài là không thể tránh khỏi. Tôi đề cập đến quá trình giúp bạn nhận ra công việc có ý nghĩa và mang lại niềm vui và bạn xuất sắc trong công việc đó. Trong Chương 8, tôi bàn đến một trong những nhân tố ý nghĩa nhất của một cuộc sống hạnh phúc là các mối quan hệ. Tôi trình bày về điều gì thật sự có ý nghĩa để yêu và được yêu vô điều kiện, và tại sao mối quan hệ hạnh phúc đòi hỏi loại tình yêu này, và làm thế nào để chúng có thể tạo ra niềm vui và ý nghĩa trong các khía cạnh khác của cuộc sống.

Trong suy ngẫm đầu tiên của phần cuối cùng, tôi đề cập đến mối quan hệ giữa hạnh phúc, tính tư lợi và lòng nhân từ. Trong suy ngẫm thứ hai, tôi đưa ra những nhân tố thúc đẩy hạnh phúc đó là những hoạt động có ý nghĩa và mang lại niềm vui. Trong suy ngẫm thứ ba, tôi phản bác lại tư tưởng cho rằng có thể xác định trước được mức độ hạnh phúc thông qua những trải nghiệm trước đó và mỗi người không thể thay đổi được mức độ hạnh phúc của mình. Trong suy ngẫm thứ tư, tôi trình bày những cách giúp bạn chiến thắng các rào cản về tâm lý, đó là các giới hạn cơ hữu bên trong và tồn tại như một cách sống. Suy ngẫm thứ năm mở ra cho bạn một thử nghiệm trong tư duy để từ đó bạn có thể suy nghĩ và tìm ra một vài câu trả lời về vấn đề của các vấn đề. Suy ngẫm thứ sáu giúp bạn biết làm thế nào để hòa hợp ngày càng nhiều các hoạt động hơn trong khi hao tốn ngày càng ít thời gian hơn.

Suy ngẫm cuối cùng là về cuộc cách mạng hạnh phúc. Tôi tin rằng nếu mọi người đều nhận ra bản chất thật của hạnh phúc như là cùng đích, thì chúng ta sẽ thấy xã hội xung quanh không chỉ ngập tràn hạnh phúc mà còn toàn những điều thiện.


Lời người dịch

Một triết gia nổi tiếng, Bertrand Russell, đã viết: “Hạnh phúc là sự mãn nguyện thật sự, là sự kết hợp mọi khả năng của con người và là sự nhận biết rõ ràng nhất về thế giới xung quanh”. Một nhà toán học, sử gia, triết học như Russell còn phải quan tâm đến vấn đề hạnh phúc thì chúng ta không thể không quan tâm. Ngay cả Đại La Lạt Ma thứ 14, đấng pháp chủ toàn cầu của Phật giáo, cũng phát biểu: “Tôi tin rằng mục đích tối hậu của cuộc sống là tìm kiếm hạnh phúc. Đó là một chân lý vững chắc. Bất kể chúng ta có tinh thần tôn giáo hay không và bất kể chúng ta theo tôn giáo nào, tất cả chúng ta đều tìm kiếm những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống. Vì vậy, tôi tin rằng xúc cảm mạnh mẽ nhất trong cuộc đời chính là xúc cảm hướng đến hạnh phúc.” Nếu có dịp tham quan một hiệu sách bên Mỹ, Barnes and Noble chẳng hạn, bạn sẽ thấy ngay loại sách “tu thân” (self- help) chiếm hẳn một khu vực đồ sộ với đầy đủ các loại sách từ “Làm thế nào để chinh phục được bạn gái trong vòng 5 phút” (How to Pick Up a Girl in Five Minutes) cho đến các tác phẩm hết sức nghiêm túc về tâm lý học hạnh phúc của Martin Seligman và Tal Ben-Shahar. Tác giả quyển Hạnh phúc hơn, Ben-Shahar, một giáo sư nổi tiếng của đại học Harvard, đang chính thức giảng dạy các phương pháp giúp chúng ta sống hạnh phúc hơn, một lãnh vực có tên gọi hàn lâm là “Tâm Lý Học Tích Cực” (Positive Psychology) mà người khai sinh ra nó chính là giáo sư Martin Seligman, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Tâm Lý Học Tích Cực tại Mỹ. Tâm lý học tích cực, nói nôm na là “ngành khoa học nghiên cứu về hoạt động chức năng tối ưu của con người”, đã được Giáo sư Martin Seligman, chủ tịch Hiệp hội Tâm lý học Mỹ, chính thức phát triển thành một môn học năm 1998. Trước đó, tâm lý học đại chúng(popular psychology hay pop psychology) môn học chính trong lĩnh vực nghiên cứu về hạnh phúc giúp nâng cao chất lượng cuộc sống.

Hầu hết mọi người, đặc biệt là giai tầng trí thức, có học vấn cao, khi nghe đến cụm từ “hạnh phúc” đều mỉm một nụ cười hoài nghi: “Hạnh phúc à? Chẳng lẽ phải đi học một ông thầy nào đó ở Harvard rồi mới có thể hạnh phúc hay sao? Vớ vẩn!” Những người ít học hơn thì cho rằng hạnh phúc đơn giản là có nhiều tiền, đi xe hơi sang trọng, ngày ngày ra quán rượu, và vui chơi bên cạnh những mỹ nhân. Ben-Shahar phủ nhận cả hai quan điểm này. Ông cho rằng hạnh phúc không phải là một khái niệm trừu tượng hay một ảo ảnh và mọi người, bất kỳ ai, cũng có thể học những nguyên tắc căn bản để sống hạnh phúc.

Ben-Shahar viết: “Sự thay đổi từ một người chạy theo hạnh phúc tương lai đến người theo đuổi hạnh phúc không phải là làm việc ít đi và ít nhiệt tình hơn mà là nhiệt tình làm nhiều việc thích hợp hơn nữa: đó là điểm khởi đầu để đạt được lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai. Tương tự, sự thay đổi từ một người theo chủ nghĩa khoái lạc đến người theo đuổi hạnh phúc không phải là hưởng thụ ít niềm vui hơn; sự khác biệt ở đây là niềm vui từ những trải nghiệm của cuộc sống hạnh phúc thì bền vững, còn niềm hân hoan của người theo chủ nghĩa khoái lạc thì chóng tàn. Người có lối sống hạnh phúc không quan tâm đến câu châm ngôn “có công mài sắt có ngày nên kim

0 BÌNH LUẬN