Cần một thị trường sách chuyên nghiệp

0
287

Cần một thị trường sách chuyên nghiệp    

 

 

Đến khi nào các tác giả Việt Nam có thể sống bằng nghề viết sách? Câu trả lời nằm ở chỗ phải có thị trường sách thực sự.

 

Ảnh minh họa.

 

Nhân dịp có thể kể về bất cứ điều gì liên quan đến con người và sách vở, tôi muốn kể về trường hợp của một tác giả tên Phú Đức, sinh năm 1901 tại tỉnh Gia Định, nay thuộc quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Trong những năm từ 1920 đến 1930, tác giả này vừa dạy học vừa viết tiểu thuyết – vừa kiếm tiền. Theo một bài nghiên cứu của tạp chí Kiến thức ngày nay, lúc bấy giờ Phú Đức dạy học lương tháng 40 đồng, viết tiểu thuyết được 20 đồng nữa, tổng cộng là 60 đồng, một số tiền rất lớn đối với một công chức trong xã hội. Tuy nhiên đó chỉ là sự bắt đầu. Thời kỳ sau 1948, hằng tháng Phú Đức nhận nhuận bút từ việc in tiểu thuyết dài kỳ lên đến 20.000 đồng, tương đương một chiếc xe hơi hiệu Peugeot.

 

Hiện nay, các tác giả thành công nhất Việt Nam may ra chỉ kiếm đủ tiền để hằng tháng có thể mua được một chiếc xe Vespa, chứ nói gì đến một chiếc xe hơi Toyota, hoặc Mazda, hoặc Honda, những thương hiệu oai ách như Peugeot hồi ấy. Nên nhớ rằng hồi Phú Đức “kiếm tiền Peugeot” thì dân số của riêng Sài Gòn chỉ có hai triệu, không phải chín triệu như bây giờ. Tỉ lệ người biết chữ cũng thấp hơn. Nhưng ông ấy vẫn trở thành người giàu. Một tờ tạp chí như tờ Trung Lập – là tờ in nhiều tiểu thuyết của Phú Đức – hồi đó bán với giá 50 xu, tức nửa đồng. Suy ra, mỗi tháng toàn bộ doanh thu có được từ việc bán 40.000 bản đã vào tận tay của một tác giả duy nhất, chưa nói đến của tác giả khác, tiền in, tiền lãi của đơn vị sản xuất. (Tổng cộng số lượng phát hành chắc phải lên vài trăm ngàn bản.) Qua ví dụ của Phú Đức, chúng ta thấy rằng Việt Nam thời xưa đã có một con đường nối túi tiền của dân với túi tiền của tác giả, kết nối tất yếu để chất xám của xã hội có thể phát triển được.

 

Ở nước Anh cũng vậy. Xuất bản năm 1850, cuốn Bleak House của Charles Dickens đã bán hơn 750 ngàn bản trước khi tác giả nổi tiếng người Portsmouth này qua đời, chưa tính truyện in dài kỳ trên tạp chí (là hình thức phát hành phổ biến thời kỳ ấy). Khi đó dân số của Anh Quốc chỉ có 17 triệu dân. Khỏi phải nói, Charles Dickens đã trở nên rất giàu có. Năm 2014, cuốn sách bán chạy nhất ở Anh là The Fault in Our Stars  của tác giả John Green, đã bán khoảng 850 ngàn bản vào năm đầu tiên. Ông ấy là người giàu có. Quay lại một vài năm trước đó, Harry Potter and the Deathly Hallows của bà J.K. Rowling đã bán hơn bốn triệu bản ở Anh, cho thấy rằng người Anh thời nay sẵn sàng mua sách không khác gì người Anh thời Charles Dickens, và tác giả thành công nhất trở nên giàu có như nhau.

 

Nhưng Việt Nam đã bị trượt chân. Vào năm 2014, nước Anh đã có hơn 20 tựa sách giải trí bán được hơn 200 ngàn bản, trong khi Việt Nam – với 90 triệu dân so với 64 triệu ở Anh – đã không có tựa sách nào bán được hơn 200 ngàn bản. Việt Nam thậm chí đã không có tựa sách nào bán hơn 100 ngàn bản. Bán chạy nhất là cuốn Buồn làm sao buông của tác giả trẻ Anh Khang, trên dưới 60 ngàn bản, tùy áp dụng con số của ai – nhưng áp dụng con số của người nào đi nữa thì Anh Khang không thể sử dụng tiền nhuận bút của mình để mua được một chiếc xe Peugeot hằng tháng. Bạn ấy làm thuê cho một công ty lớn nào đó rất có thể sẽ kiếm tiền nhiều hơn là số tiến nhuận bút có được từ tựa sách đó, một sự thật không áp dụng được với Charles Dickens, với John Green – hoặc với Phú Đức.

 

Tình trạng này càng đáng buồn hơn khi chúng ta so sánh với thị trường bia. Mỗi năm người Anh uống khoảng bốn tỉ lít bia, còn người Việt thì khoảng 3,5 tỉ. Việt Nam đông dân hơn, tuy nhiên phụ nữ Việt hay tránh rượu bia; đàn ông Việt uống bia không kém gì đàn ông Anh. Dựa trên khảo sát do cá nhân của tôi thực hiện ở hội sách TP.HCM năm 2014, hơn 70% người mua sách tại Việt Nam là phụ nữ. (Trang tác giả của tôi trên Facebook, 73% “fans engaged” là nữ.) Đàn ông là một phần nhỏ của một thị trường vốn đã nhỏ rồi, và đó là điều đáng lo. Theo nhiều nghiên cứu do The Fatherhood Institute của Anh tổng hợp, thời gian các ông bố đầu tư đọc sách cho con nhỏ là yếu tố có tác động rõ nhất tới kết quả học tập ở trường, hơn bất cứ yếu tố nào khác thuộc về môi trường chăm sóc ở nhà. Một phần do kết quả nghiên cứu như vậy cho nên khoảng 1/3 các ông bố người Anh đọc sách cho con nhỏ của họ nghe gần như mỗi tối. Các ông bố Việt Nam thì không.

 

Tất nhiên người Việt – trong đó có đàn ông – đọc báo online nhiều (chủ yếu cho bản thân) cũng như các Facebook status dài dòng của bạn bè. Nhưng chỉ có sách mới nhìn thật sâu vào một vấn đề lớn lao, mới trình bày được những ý tưởng nối lại với nhau từ chương này sang chương khác, mới phát triển được những nhân vật mà ở họ mình thoáng thấy bản thân mình. Còn muốn có được nhiều tựa sách hay, những tác giả thành công nhất phải kiểm được khá nhiều tiền, đó chỉ là một thực tế của thị trường, cũng như thị trường phim – Hollywood – và nhiều thị trường sáng tạo khác. Suy ra, thị trường sách là một cách rất hiệu quả để đo được EQ (emotional intelligence) của một quốc gia. Đất nước có tỉ lệ tên sách xuất bản mỗi năm cao nhất thế giới là Israel, và đó cũng là đất nước có tỉ lệ người nhận giải Nobel trên dân số cao nhất thế giới. Điều ấy không phải do tình cờ.

 

Quay trở lại với đề tài chính – sự sụp đổ của thị trường sách Việt Nam – chúng ta nên nhớ rằng Việt Nam đã từng có nền văn học khá phát triển so với mức chung của các nước Đông Nam Á. Năm 1912, nhà văn Hồ Biểu Chánh (Tiền Giang) đã xuất bản Ai làm được, cuốn tiểu thuyết mở đầu cho 65 tiểu thuyết được đón nhận và bán chạy sau này. Năm 1927, một nhà văn đến từ Đà Nẵng tên Huỳnh Thị Bảo Hòa đã xuất bản tiểu thuyết đầu tay và trở thành người phụ nữ Việt Nam đầu tiên xuất bản tiểu thuyết. (Sách tên Tây phương mỹ nhơn, kể về một thiếu phụ người Tây tên Bạch Lan và chuyện tình cảm phức tạp với anh chàng Việt Nam tên Tuấn Ngọc.) Năm 1936, Vũ Trọng Phụng, hiện tượng đến từ Hà Nội, đã xuất bản Số đỏ, một trong bốn tiểu thuyết tác giả trẻ này cho ra đời vào năm đó. Thử so sánh, người Thái đã phải chờ đến tận năm 1920 mới đón nhận tiểu thuyết đầu tiên của văn học nước họ – trong khi Hồ Biểu Chánh đã xuất bản tới tiểu thuyết thứ 14.

 

Việt Nam đã xây dựng cơ sở dựa trên đó có thể theo kịp thị trường sách của cả Pháp lẫn Anh, không chỉ về mặt thói quen đọc sách mà về tính công bằng của mô hình kinh doanh. Tại sao thị trường ấy đã sụp đổ? Đó là câu hỏi khó trả lời. Chiến tranh là một đáp án; tuy nhiên nước Anh đã trải qua hai cuộc chiến lớn mà thị trường sách vẫn vậy, tác giả nổi tiếng nhất ở mỗi thể loại vào những năm 1920, 1930, 1940 vẫn còn được nhắc tới nhiều vời thời Internet. (Nói về thể loại trinh thám không thì người Anh vẫn còn nhớ đến Agatha Christie, trong khi người Việt hầu như đã quên mất hẳn ông Phạm Cao Củng, tác giả trinh thám nổi tiếng nhất thời ấy.) Do công nghệ? Do tiền? Do văn hóa?

 

Nhìn một cách tích cực, có nhiều cách để khắc phục tình trạng này. Tuy nhiên tôi cho rằng điều quan trọng nhất là sửa lại khuôn khổ của cuộc đối thoại, phản đối ý kiến cho rằng những nỗ lực phát triển thị trường sách đồng nghĩa với việc tạo một sở thích mới trong văn hóa, cung cấp một chất dinh dưỡng nào đó mà từ trước đến giờ chưa ai tiêm vào dòng máu Việt. Người Việt vốn không thích đọc sách là sai – ít nhất khi nhìn vào thu nhập của một số tác giả tiêu biểu của thời xưa. Khi công nhận điều này thì chúng ta sẽ có một cái nhìn mới về việc xây dựng lại thị trường.

 

Joe Ruelle, người Canada, tác giả hai cuốn sách Tớ là Dâu và Ngược chiều vun vút.

Theo Forbes VN
Nguồn: nhuongquyenvietnam.com

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

11 + 12 =