Khi nhà văn Mỹ cởi trần
Dân gian có câu: “Tấm áo không làm nên thầy tu”, để tỏ rõ sự coi trọng phẩm chất bên trong hơn vẻ hào nhoáng bề ngoài của một con người.
William Faulkner, 1897-1962

Falkner (không có chữ ‘u’), nhưng một biên tập viên ghi nhầm nên nhà văn được giải Nobel Văn học năm 1949 đã lấy W. Faulkner là bút danh. Là một trong những nhà văn quan trọng nhất thế kỷ XX, tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ của ông là một kiệt tác, một số trang không hề có dấu chấm, phẩy – là thử thách lớn đối với cách đọc kiểu cũ.
Tennessee Williams, 1911-1983 (đứng giữa)

Thành danh vào năm 34 tuổi với vở kịch Bầy thú thủy tinh, Tennessee Williams hai năm sau đó trở thành một tên tuổi lớn của làng văn học quốc tế bằng tác phẩm Chuyến tàu mang tên Dục vọng. Cả hai tác phẩm này được dịch sang nhiều thứ tiếng, chuyển thể lên màn ảnh lớn với các ngôi sao nổi tiếng nhất màn bạc Hollywood bấy giờ. Trong Hồi ký của một con cá sấu, ông thú nhận văn chương đã cứu rỗi linh hồn mình.

Văn hào Mark Twain lại nói: “Quần áo làm nên con người. Một người trần trụi chẳng có ảnh hưởng gì trong xã hội”. Nhà văn phiêu lưu vĩ đại của nền văn học Mỹ rất chú trọng hình ảnh bản thân với công chúng, ông thường chủ động tạo dáng trước ống kính phóng viên. Thế nên, mới đây, tấm ảnh của Sam Clemens chụp Mark Twain cởi trần năm 1883 đã làm cho dư luận sửng sốt.
Thực ra, Twain không phải là tác gia duy nhất phơi ngực trần trước công chúng. Còn nhiều cây bút nổi tiếng khác, từ William Faulkner cho Ernest Hemingway không ngại cởi áo chụp ảnh.
Ernest Hemingway, 1899-1961

Là cựu quân nhân trong Chiến tranh thế giới I, sau đó được biết đến qua Thế hệ vứt đi,ông nhận giải Pulitzer năm 1953 với tiểu thuyết Ông già và biển cả, và Nobel Văn học năm 1954. Nguyên lý Tảng băng trôi là đặc điểm văn phong nổi bật của Hemingway. Nhân vật trung tâm trong tác phẩm của ông là những người mang đặc trưng của chủ nghĩa khắc kỷ (chấp nhận nghịch cảnh), thể hiện một lý tưởng được miêu tả là “sự vui lòng chịu sức ép”. Nhiều tác phẩm của ông hiện nay được coi là những tác phẩm kinh điển của nền văn học Mỹ.
Allen Ginsberg, 1926-1997 (bên trái) và Peter Orlovsky, 1933-2010 (bên phải)

Năm 1956, Ginsberg cho xuất bản bài thơ Hú gào, và bị ra tòa với tội danh “văn hóa phẩm bẩn thỉu”, nhưng trắng án. Bài thơ này được dịch ra 23 thứ tiếng trên thế giới. Là một trong những thủ lĩnh thế hệ Beat thập niên 1950, Ginsberg làm thay đổi giọng thơ Mỹ, giới trẻ Mỹ xem ông như người dẫn đường tinh thần. Ông cũng tham gia những cuộc phản đối chính trị và đưa tinh thần ấy vào thơ: đòi quyền tự do, quyền của kẻ yếu, chống nhà nước cảnh sát trị, chống chiến tranh Việt Nam và chống bom hạt nhân.
Peter Orlovsky là nhà thơ, nhạc sĩ, từng làm nhiều nghề: dạy học, trồng trọt, có lúc đóng phim… và ngao du sơn thủy bên cạnh người bạn lâu năm là Allen Ginsberg cho đến khi nhà thơ này qua đời. Phát biểu của W. C. Williams khi lần đầu tiên đọc thơ Orlovsky mà ông tiên đoán sẽ là “đích” của thơ ca Mỹ: “Không một chút Ăng lê… thuần túy Mỹ”.
Ezra Pound, 1885-1972

Ezra Weston Loomis Pound là nhà thơ, dịch giả, nhà phê bình, một đại diện xuất sắc của trào lưu văn học Anh Mỹ hiện đại nửa đầu thế kỷ XX. Nhà thơ trứ danh T. S. Eliot dùng lời của Dante, “bậc thầy cao hơn tôi” để nói về Ezra Pound. Còn nhà thơ Carl Sandburg viết: “Trong số những người đang sống, ông là người đã làm nhiều nhất để thức dậy những khát khao mới mẻ trong thơ ca”.
William S. Burroughs, 1914-1997

Là tiểu thuyết gia, họa sỹ, diễn giả, viết truyện ngắn, tiểu luận nổi tiếng, bút danh William Lee, ông là nhân vật quan trọng của thế hệ Beat, là tác giả lớn của chủ nghĩa hậu hiện đại, được đánh giá là một trong những tác gia sắc bén về chính trị, có ảnh hưởng về văn hóa và cấp tiến nhất thế kỷ XX. Tiểu thuyết nổi tiếng Naked Lunch (chưa dịch ra tiếng Việt) được viết khi ông đang chìm đắm trong heroin, viết xong, cắt vụn bản thảo ra, rồi ghép chúng lại với nhau một cách tùy hứng, không được xuất bản một cách nguyên vẹn tại Mỹ năm 1959 và đến năm 1962 bị cấm hoàn toàn tại bang Boston vì quá thô tục. Tuy nhiên, đến năm 1966, sự cấm đoán được bãi bỏ.
Ken Kesey, 1935-2001 (bên trái) và Neal Cassady, 1926-1968 (bên phải)

Nổi tiếng với tiểu thuyết đầu tay Bay trên tổ chim cúc cu, đồng thời được biết đến như một nhân vật phản văn hóa, được nhiều người coi là cầu nối giữa hai thế hệ Tổn thương (Beat và Hippie), Ken Kesey bị bắt vì sở hữu cần sa năm 1965, trốn trại sang Mexico và bị bắt lại tám tháng sau đó. Khi được tự do, ông quay về trang trại của gia đình ở đồi Pleasant, Oregon sống đến cuối đời. Hầu hết tác phẩm của ông ra đời ở đây.
Neal Cassady là nhân vật nhiều ảnh hưởng của thế hệ Beat và phong trào ảo giác thập niên 1960, vướng vòng lao lý nhiều lần, là “người hùng” của giới trẻ Mỹ thời bấy giờ, là nguyên mẫu nhân vật Dean Moriarty trong tiểu thuyết Trên đường (On the road) của Jack Kerouac, là nguồn cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm văn học kinh điển như Bay trên tổ chim cúc cu, Hú gào, Thiên thần của địa ngục… và cả âm nhạc, điện ảnh. Các tác phẩm của Cassady chỉ được xuất bản sau khi ông qua đời, như Thứ ba đầu tiên, Thư từ nhà tù, Tuyển tập thư.
Nguồn: hoanhthai.vn






![[Review Sách] “Nhà Giả Kim”: Khi Bạn Quyết Tâm Muốn Điều Gì Thì Cả Vũ Trụ Sẽ Tác Động Để Giúp Bạn Đạt Mục Đích Đó](https://diemsach.info/wp-content/uploads/2020/06/1590237472364-NHÀ-GIẢ-KIM-100x70.png)




