Trang chủ Xuất Bản, Phê bình và Thư viện Phê bình và Lý luận Quan niệm về đối thoại của triết học văn hóa đương đại

Quan niệm về đối thoại của triết học văn hóa đương đại

0
654

Quan niệm về đối thoại của triết học văn hóa đương đại

Triết học của mỗi chuyên ngành khoa học có nhiệm vụ đem thế giới quan, phương pháp luận đặc thù để soi sáng đối tượng nghiên cứu, qua đó làm nổi rõ hơn cái riêng, cái mới. Triết học văn hóa đương đại đang được hưởng ứng rộng rãi trên thế giới bởi nó đẩy vấn đề nghiên cứu đi sâu về phía chủ thể để cắt nghĩa, lí giải những khía cạnh mang tính bản chất. Những khái niệm trước kia còn mơ hồ thì đến nay, dĩ nhiên vẫn đang còn thử thách nhưng dần được hé mở qua trao đổi, tranh luận. Người ta càng thấy rõ hơn đối thoại văn hóa là đặc điểm cơ bản cũng là nhu cầu thiết yếu, cấp bách, thường trực của các cá nhân, các cộng đồng. Thực ra quan niệm đối thoại là bản chất cuộc sống đã có tiền đề từ triết học Marx: “Trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”. Để xây dựng “những mối quan hệ xã hội” chính là đối thoại. Không ngẫu nhiên nhân loại coi thế kỉ XXI là thế kỉ của văn hóa bởi cả thế giới đang cần đến đối thoại, và chỉ có đối thoại mới làm cho con người xích lại gần nhau, chia sẻ, hợp tác, hữu nghị… Trong bối cảnh thời đại thông tin bùng nổ, vấn đề toàn cầu hóa diễn ra chóng mặt thì khái niệm “đối thoại văn hóa” trở thành khái niệm trung tâm, cơ bản của văn hóa học đương đại.

Người được cho là đầu tiên dùng thuật ngữ “triết học văn hóa” là nhà văn Đức A.Muller (1779 – 1829). Sang thế kỉ XX với quan niệm nhà phê bình (người đọc) bình đẳng với nhà văn trước tác phẩm thì dần xuất hiện một mô hình phê bình mới: phê bình đối thoại – mà người tiên phong là M.Bakhtin. Tinh thần dân chủ của đối thoại thể hiện rõ ở chỗ nâng vị thế của người tiếp nhận từ bị động thành chủ động. Trước đây “người nói phải có kẻ nghe” thì người nghe là bị động, học trò chăm chú nghe giảng từ thầy được coi là trò ngoan. Nghe đúng, làm theo đúng được coi là trò giỏi. Trò giỏi nhưng ít sáng tạo vì cái giỏi ấy phần lớn của thầy, chưa phải đích thực của trò. Đấy không phải là đối thoại. Đối thoại là có sự phản ứng, phản biện, chọn lọc, đưa ra ý mới… từ phía người tiếp nhận. Nhờ đối thoại mà hiểu biết nhân lên hiểu biết, sáng tạo nhân lên sáng tạo, con người được là chính mình, làm chủ mình, làm mới mình. Đối thoại làm nên bản chất cuộc sống.

Chúng ta vẫn quen phân tích, khái quát truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là “bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người”. Trên thực tế, sống trong xã hội cũ những người dân nghèo bị áp bức đều chịu chung bi kịch này, bằng chứng là ai cũng bị đánh thuế thân, thứ thuế đánh vào người đang sống, ai sống thì phải nộp thuế. Những anh Dậu, anh Pha, Chí Phèo… đều bị thế cả. Nên nói như trên là chưa nói được chính xác giá trị cơ bản của tác phẩm. Mở đầu thiên truyện là hình ảnh Chí vừa đi vừa chửi, chửi trời, chửi đời, chửi cả làng, chửi mẹ cha đứa nào đã đẻ ra hắn… Tức là Chí khát khao một sự đối thoại. Nhưng chẳng có ai thèm đối thoại, vì tất cả đã coi Chí ở hàng thú vật. Như vậy Nam Cao đã gián tiếp nêu ra: bản chất con người là đối thoại; chỉ con người mới có thể đối thoại được với nhau; điều kiện đối thoại là hiểu biết, bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt, biết lắng nghe… Cả làng Vũ Đại không hiểu cái khát khao muốn đối thoại ở Chí Phèo, không hiểu cái mầm lương thiện đang ấp ủ trong một hình hài thú vật. Cho nên bi kịch xót xa của Chí là bi kịch bị cự tuyệt quyền đối thoại, mà như thế có nghĩa là chết còn hơn sống. Chúng ta nhớ một truyện ngắn của Gorki kể về sự trừng phạt khủng khiếp nhất của bộ lạc nọ đối với một kẻ có tội là mặc cho hắn lang thang cô độc như một bóng mây đen trên thảo nguyên, vĩnh viễn không còn ai bầu bạn.

1. Trong cuộc đối thoại mang tính toàn cầu thì hiểu biết luôn được nhấn mạnh, đề cao. Để tạo ra cuộc đối thoại, các bên tham gia đều phải có vốn tri thức sâu rộng về giao tiếp văn hóa, về lĩnh vực cùng quan tâm. Vì thế mà người đối thoại (nói và nghe) phải tích cực học hỏi, phải cắm rễ rất sâu vào hai mạch nguồn văn hóa của dân tộc và nhân loại. Để thu nhận dưỡng chất văn hóa. Để hiểu, vận dụng, cắt nghĩa. Ví dụ bài thơ “thần” tương truyền của Lý Thường Kiệt là thông điệp (đối thoại) gửi tới bọn xâm lăng phương Bắc khẳng định sự độc lập tự chủ, tự cường của nước Nam. Chữ “đế” là linh hồn của bài thơ phải được hiểu từ góc nhìn triết học văn hóa, tức cắt nghĩa từ phía cội nguồn sâu xa. Một là từ quan niệm vũ trụ của người Trung Hoa cổ đại, cho rằng có “tứ phương ngũ đế” tức bốn vị đế ở bốn phương trời: Phục Hi (phương Đông), Chuyên Húc (phương Bắc), Thiếu Hạo (phương Tây), Thần Nông (phương Nam); bốn vị này châu tuần quanh Trung ương Hoàng đế (“hoàng” nghĩa là màu vàng). Hai là, vào thế kỉ III TCN, cuối thời Chiến quốc nhà Tần thống nhất Trung Quốc, vua Tần xưng Hoàng đế thì chữ “đế” cùng nghĩa với “ngũ đế” trong triết học, tức để gọi “trời”; chữ “hoàng” có nghĩa là vĩ đại, tươi sáng, rực rỡ. Như vậy “hoàng đế” của nhà Tần có nghĩa là vua của mọi vua, sánh ngang với trời, các nước xung quanh chỉ là “man di”. Hiểu như vậy sẽ thấy chữ “đế” trong bài thơ “thần” ở trên đặc biệt có ý nghĩa: “đế” nước Nam ta cũng lớn chẳng khác gì Trung Hoa, cương phận thì sách trời đã phân, sao các người lại có ý đồ xâm lược? Rõ ràng đây là lời lẽ của sự cảnh tỉnh, ngăn chặn một ý đồ (với kẻ thù), đồng thời là lời khích lệ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc (với dân ta). Nên nếu đánh giá bài thơ chưa có quan điểm nhân dân (mới có yếu tố “thần”) thì chưa hiểu bản chất đối thoại để khẳng định chủ quyền của một áng hùng văn.

Có thể hiểu bài thơ sâu hơn, hay hơn nhưng qua đó đủ thấy hiểu văn, viết văn phải có triết học làm nền tảng. Trong Lời than vãn của bà Trưng Trắc tác giả Nguyễn Ái Quốc hiểu sâu từng quẻ trong Kinh Dịch mới có thể mỉa mai thâm thúy hình tượng Khải Định, cho rằng mệnh Khải Định tương ứng với quẻ Dương Cửu lên ở mức cao nhất (là vua) rồi sẽ tuột xuống thân phận thảm hại đớn hèn nhất (là nô lệ, tay sai).

Văn học cổ điển cả phương Đông lẫn phương Tây đều gọi những nhà văn lớn là “đại thụ”. Đại thụ trong thiên nhiên bao giờ cũng cắm rễ sâu vào đất để hút dinh dưỡng và vươn cao lá cành để quang hợp ánh sáng. Đại thụ của văn học cũng vậy, cắm những nhánh rễ khỏe khoắn vào mảnh đất văn hóa truyền thống và quang hợp ánh sáng tư tưởng của thời đại. Cái cây khẳng khiu còi cọc giống như nhà văn non bấy chỉ có những trang viết nhợt nhạt vì thiếu dưỡng chất văn hóa và không có tư tưởng. Một tác phẩm văn học lớn bao giờ cũng là sự tích hợp các vỉa tầng văn hóa truyền thống và hiện đại. Điểm tựa để người ta phác thảo ra chân dung con người văn hóa của nhà văn là các khái niệm mới của triết học văn hóa: đối thoại văn hóa, nhân học văn hóa, tiếp biến văn hóa… Nhà văn viết văn là một cách tham gia đối thoại sâu sắc nhất với văn hóa truyền thống, với cuộc đời, với độc giả (trong nước, ngoài nước) và với cả chính mình. Mà để có thể đối thoại thì điều kiện đầu tiên là hiểu biết. Càng hiểu biết nhiều càng có cơ hội mở rộng lĩnh vực quan tâm và làm sâu các vấn đề đối thoại. Cho nên phẩm chất trước hết của nhà văn thời hội nhập là giàu tri thức. Vì là sứ giả văn hóa trong cuộc đối thoại toàn cầu nên nhà văn không chỉ hiểu biết rộng về văn hóa đương đại mà còn phải hiểu sâu văn hóa truyền thống của dân tộc. Có vậy anh ta mới nắm được bản sắc văn hóa (một số ngôn ngữ thông dụng hiểu là căn cước văn hóa) của đất nước mình để tham gia vào cuộc đối thoại chung, khi mà các bên đều có nhu cầu biết về cái riêng đặc sắc của đất nước khác.

 



Nhà văn phải sống trong nhiều môi trường văn hóa để so sánh, học hỏi thì trang viết mới sâu, vì ngoài lượng thông tin bạn đọc còn chờ đợi ở tác giả sự gợi dẫn về cách đánh giá, lí giải ở nhiều góc độ khác nhau. Phải suốt đời tích lũy vốn sống, ngụp lặn sâu vào đời sống. Một lần về tát nước chống hạn ở Hà Đông, thấy một nhà báo ăn mặc chải chuốt, Bác Hồ nói: “Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân viết mới đúng được”(1). Đây là phương châm rèn luyện không của riêng người cầm bút nào.

Là những người đi tìm sự thật nên nhà văn phải có phẩm chất dũng cảm. Khi tự mình “bẻ cong” ngòi bút cũng tức là tự “bẻ cong” lương tâm mình. Hết lòng yêu cuộc đời mà phanh phui mặt trái, vạch ra cái xấu, cái thấp hèn để mọi người nhìn thấy, lên án mà xa lánh, rời bỏ, đấy cũng là cách xây dựng cho cuộc đời tốt đẹp hơn.

2. Trong đối thoại thì tất cả đều bình đẳng, không ai hơn ai, cũng không ai có quyền ép người này phải thế nọ, thế kia… Đối thoại văn hóa tối kị những câu mệnh lệnh thức hay cầu khiến. Trước một vấn đề đối thoại các bên đều có chính kiến, phản biện, bảo vệ. Các nền giáo dục tiên tiến hiện nay đang đi theo hướng này. Thầy giáo không bao giờ áp đặt trò phải hiểu, phải nghe lời mà chỉ có nhiệm vụ gợi mở hướng đi, gợi ý các cách hiểu chứ không có quyền kết luận chân lí. Tìm ra chân lí phải là trò. Nên họ rất coi trọng tự học, nhờ vậy một khi đã tìm được chân lí thì kiến thức sâu và vững.

Đối thoại giữa các nền văn hóa càng cần đến bình đẳng, vì xét từ bản chất thì tiếp biến văn hóa là lẽ tự nhiên. Không có nước lớn về văn hóa mà chỉ có sự đặc sắc về văn hóa, nhờ có sự đặc sắc ấy mà tạo nên ảnh hưởng. Sự tích trầu cau không chỉ có ở Việt Nam mà có ở hầu khắp các nước Đông Nam Á. Motif chàng Thạch Sanh hay cô Tấm cũng có ở nhiều nước trên thế giới. Ngày nay người ta thấy thật dễ hiểu khi vở kịch Hamlet của Shakespeare có gốc gác từ Đan Mạch hay Truyện Kiều chịu ảnh hưởng cốt truyện từ Trung Quốc. Triết học văn hóa hiện đại không chấp nhận tư tưởng sôvanh văn hóa, tư duy kẻ cả trong văn hóa, cho rằng chỉ có văn hóa nước mình mới là trung tâm, mới là nhất.

Bình đẳng được coi là điều kiện thứ nhất trong tiếp nhận văn học. Vì là quá trình khám phá hình tượng nên cần đến nhiều con đường liên tưởng, tưởng tượng; nếu có sự áp đặt cách hiểu tức là bóp nghẹt các con đường tư duy ấy. Trước một hình tượng văn học, nhờ vốn sống, hiểu biết, trình độ thẩm mĩ… mà mỗi người hiểu một cách, cần tôn trọng các cách hiểu khác nhau vì chúng sẽ làm giàu thêm ý nghĩa cho hình tượng. Trước khi có cách hiểu hồn nhiên mà sâu sắc của một cậu bé bảy, tám tuổi thì bạn đọc Nga vẫn thường hiểu nhân vật ông lão trong truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng là người hiền lành phúc hậu, nên lấy đó làm gương. Cậu bé kia thì hiểu ngược lại, cho rằng ông lão đần độn đến ngu xuẩn, không có gì đáng học vì đã xin con cá được nhiều thứ thế mà không nghĩ ra việc xin thay bà vợ tử tế hơn cho đỡ khổ…

Nhiều khi cách hiểu hồn nhiên mới đúng về chân lí mà câu chuyện Bộ quần áo mới của hoàng đế là ví dụ sinh động. Vì quen là nô lệ cho thói nịnh hót, bợ đỡ mà chẳng ai dám nói lên cái điều mình thấy, chỉ có cậu bé ngây thơ mới thốt ra sự thật về tình trạng bi hài ấy của vị hoàng đế. Ở hai truyện trên, các tác giả Pushkin và Andersen thực sự là những nhà văn hóa vĩ đại vì đã xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật bất hủ khiến người đời sau vẫn còn cơ hội để đối thoại.

3. Vì đối thoại mang tính toàn cầu nên không có tiếng nói riêng sẽ khó được chấp nhận. Bản sắc văn hóa là những yếu tố độc đáo, đặc sắc biểu hiện nét đặc thù của một dân tộc. Bản sắc làm nên giá trị mà muốn đi tìm giá trị này lại thường phải dựa vào hệ tọa độ chủ thể – không gian – thời gian, vì văn hóa luôn là sản phẩm của một chủ thể, diễn ra trong một không gian, thời gian cụ thể. Phạm trù chủ thể là cơ bản, chủ yếu vì mọi vấn đề đều thông qua, khúc xạ qua con người, và chỉ có con người chủ thể ở không gian nhất định mới có thể phần nào thấu hiểu ý nghĩa của văn hóa.

Nói đến giá trị là nói đến chuẩn mực. Mỗi dân tộc sở hữu những bản sắc văn hóa riêng tức những giá trị riêng, chuẩn mực riêng; căn cứ vào đó để phân biệt văn hóa của dân tộc này với văn hóa của dân tộc khác. Người ta quý cái riêng vì có cái riêng mới có thể đối thoại, hội nhập. Một quy luật thông thường là người nói muốn nói và chỉ nên nói những điều mình biết, người nghe thì muốn được nghe những điều mình chưa biết. Vì là đặc thù nên giá trị, chuẩn mực văn hóa của cộng đồng này chưa hẳn là giá trị, chuẩn mực của cộng đồng khác, có khi còn ngược lại. Do vậy vội vã chê dân tộc kia là dã man, thiếu văn minh… tức là đã sa vào thái độ sôvanh văn hóa, thiếu tôn trọng văn hóa của nhau. Người phương Tây có gốc văn hóa du mục, con ngựa với họ là con vật gần gũi mà họ vẫn ăn thịt, không thể lại đi dè bỉu một số dân tộc phương Đông là người của văn hóa nông nghiệp ăn thịt chó…

Mặt khác, mỗi nền văn hóa đều sản sinh những phong tục tập quán. Các điều kiện địa lí, đất đai, khí hậu, canh tác… lại quy định nội dung các phong tục tập quán. Có phong tục ở dân tộc này là khác lạ, thậm chí “quái lạ” so với dân tộc kia, vì thế cũng không thể đem cái nhìn, quan niệm sống của dân tộc này phán xét dân tộc khác. Nguyên tắc căn bản của folklore học yêu cầu phải giữ nguyên dạng các di sản văn hóa là xuất phát từ vấn đề cơ bản này. Các nền văn hóa đều có mục tiêu chung là vì con người; xem xét tính chất, tiêu chuẩn của mỗi nền văn hóa đều phải lấy con người làm thước đo. Văn hóa mỗi nước có nét hay riêng, cần giữ gìn, phát triển nét hay đó và cùng học tập trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Nhiều nét riêng, nét hay mới làm nên bản sắc.

Giá trị luôn thay đổi theo thời gian, có giá trị ở thời này là chuẩn mực nhưng thời sau lại lạc hậu. Mỗi cá nhân đều phải có trách nhiệm gìn giữ những chuẩn mực văn hóa của cộng đồng mình nhưng không thể khư khư bảo thủ giữ lại cả những gì bất cập với ngày hôm nay. Những phong tục đập trâu, chém lợn man rợ, thiếu nhân tính ở một số địa phương bị lên án mạnh mẽ gần đây là những hủ tục cần sớm loại bỏ. Văn hóa học có khái niệm “tự điều chỉnh”, tức văn hóa tự thân nó sớm muộn sẽ có sự thay đổi để thích ứng với xã hội, nhưng có sự tác động của thể chế tiến bộ (như văn bản luật, quy định…) thì sự điều chỉnh sẽ nhanh hơn, đúng hướng hơn.

Cần có cái nhìn văn hóa trước các hiện tượng văn hóa gây tranh luận, không cực đoan bảo thủ cho đó là truyền thống cần mãi mãi giữ gìn, cũng không phủ nhận sạch trơn. Phải phân tích, cắt nghĩa, lí giải một cách hệ thống, cụ thể để giữ lấy cái lõi nhân văn, gạt bỏ cái lỗi thời. Văn hóa là con người, hãy để chủ thể con người nơi đó nói lên tiếng nói của văn hóa nơi họ đang sinh tồn. Và hãy quan sát, suy ngẫm, đối sánh, gợi mở để chủ thể văn hóa điều chỉnh hành vi văn hóa cho phù hợp với thời đại mới. Mọi áp đặt hoặc can thiệp thô bạo là không phù hợp với tinh thần mềm mại, uyển chuyển và tinh tế của văn hóa.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất – là người luôn thể hiện văn hóa biết lắng nghe người khác, đặc biệt là lắng nghe tiếng nói của trẻ em. Giáo sư Hoàng Xuân Sính nhớ mãi một kỉ niệm, khoảng năm 1945 – 1946, khi nước nhà vừa mới độc lập, Bác Hồ đến thăm trường nữ trung học ở Hà Nội và vào lớp dự giảng một tiết tiếng Anh. Vì hồi hộp nên cô học trò Hoàng Xuân Sính phát âm không chuẩn. Bác đến gần đọc lại những câu trong bài, Sính đọc theo vẫn không đúng. Bác kiên trì sửa lại từng âm và nhẹ nhàng nói: “Cháu đọc thế này mới đúng”. Và câu chuyện Chiếc vòng bạc trong sách phổ thông thì ai cũng nhớ. Thấy một cháu bé trong bản ước ao có một cái vòng bạc, một năm sau ông Ké (tức Bác Hồ) trở về đã tặng cháu bé cái vòng bạc ấy như đã hứa. Hành động tuy nhỏ mà thật ý nghĩa của Bác đã chứng minh chân lí: phải là một tâm hồn giàu yêu thương, giàu lòng trắc ẩn, bao dung và luôn tôn trọng con người mới lắng nghe được tiếng lòng con trẻ.

Biết lắng nghe là một hành vi văn hóa cao đẹp trong xã hội hiện đại vì nó thể hiện rõ nhất tinh thần dân chủ, bình đẳng giữa người với người. 

Nhưng biết lắng nghe là cả một năng lực văn hóa bởi về bản chất đó là một quá trình tiếp nhận, do vậy phải có vốn sống, vốn tri thức, chính trị… để phân tích, tiếp nhận, loại bỏ, phản biện. Cho nên từ cổ xưa người phương Đông dồn triết lí ấy vào con chữ tượng hình, chữ “thính” trong tiếng Hán (có nghĩa là “nghe”) được cấu thành (chiết tự) bởi các chữ mang các ý nghĩa: “vương” (coi người nghe mình như vua); “nhĩ” (khi nghe phải lắng tai chăm chú); “nhãn” (khi nghe phải nhìn người nói thể hiện sự chú ý, tôn trọng); “tâm” (nghe bằng cả tâm trí); “nhất” (cả người nói và người nghe phải đồng nhất, đồng hướng). Ngày nay thế giới coi một biểu hiện của khoan dung hòa giải văn hóa là biết lắng nghe nhau.

Nhà thơ – nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi kể, trong không khí bừng sôi của Đại hội Tân Trào tháng 8/1945, “Tôi hát to: “Gươm đâu, gươm đâu, thời cơ đang đến! Tiến lên, tiến lên, theo cờ Việt Minh!”. Tôi hoàn toàn không biết rằng Hồ Chủ tịch đang chăm chú lắng nghe tiếng hát của tôi. Khi vừa hát xong, tôi bỗng nghe rõ tiếng Hồ Chủ tịch: “Bây giờ mà chú còn hát gươm đâu, gươm đâu thì thật không hợp với tình hình! Chú nên hát gươm đây, gươm đây!”(2). Bác Hồ của chúng ta là vậy. Dù là một câu nói, câu hát, câu thơ, Người luôn lắng nghe người khác.

Theo Marx, các triết học đều nghiên cứu về con người, triết học văn hóa tập trung nghiên cứu về con người văn hóa – một phạm trù rất rộng, trừu tượng nhưng cũng rất gần gũi, cụ thể. Đối thoại văn hóa chỉ là một đơn vị kiến thức nhỏ mà thôi. 

Nguyễn thanh Tú
———

1. Hồ Chí Minh – chân dung đời thường. Nxb Lao động, 2005, tr.101.
2. Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ – Văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh. Nxb Hội Nhà văn, 2010, tập 1, tr.41.

Nguồn: vannghequandoi.com.vn

0 BÌNH LUẬN