[Tóm tắt & Review sách] “Đến Starbucks Mua Cà Phê Cốc Lớn”: Những Vấn Đề Kinh Tế Xoay Quanh Cuộc Sống Chúng Ta

0
25
Thông tin về sách trong bài viết
Tên Sách: Đến starbucks mua cà phê cốc lớn
Tác Giả: Yoshimoto Yoshio

Khi khát nước, bạn sẽ chọn đi đến tiệm tạp hóa kế bên nhà hay đi ra siêu thị cách 2km để mua một chai nước, khi đi xem phim, bạn sẽ lựa chọn mua bắp rang cỡ lớn nhất hay chỉ vừa đủ ăn? Những vấn đề thật đơn giản và vụn vặt trong cuộc sống, nhưng sự thật đây là những lựa chọn mang ý nghĩa kinh tế vô cùng to lớn. Liệu ta có đang tiêu đúng cho những thứ sản phẩm chúng ta sử dụng hằng ngày hay chưa? Và liệu chúng ta có đang là một người tiêu dùng thông thái hay không?

1. Tác giả

Yoshimoto Yoshio là một trong những nhà kinh tế học được yêu mến tại nước Nhật. Yoshimoto Yoshio sinh năm 1963, tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế tại đại học Nagoya. Sau đó ông làm việc cho ngân hàng Sumitomo. Ông tiếp tục hành trình học hành, nghiên cứu để trở thành một giảng viên đại học. Hiện tại, Yoshimoto Yoshio là giảng viên bộ môn Kinh tế học, Tài chính quốc tế, Kinh tế vỹ mô, Kinh tế vi mô…

Chính vì trong lĩnh vực kinh tế đã nhiều năm, tác giả đã lý giải những vấn đề trong tiêu dùng và mua sắm hằng ngày một cách đơn giản và dễ hiểu dưới góc độ kinh tế.

2. Về cuốn sách

2.1 Nên mua trà xanh đóng chai ở cửa hàng tiện lợi hay siêu thị?


Đã bao giờ ta thắc mắc, vì sao cùng một loại nước đóng chai, cùng một nhãn hiệu, cùng được ướp lạnh, nhưng lại có giá cả chênh lệch nhau ở từng địa điểm bán hay không? Tại sao có những người chấp nhận mua một chai trà xanh với giá mắc hơn ở máy bán hàng tiện lợi thay vì đến siêu thị và có được cái giá rẻ hơn? Những câu hỏi tưởng chừng đơn giản này lại khiến nhiều người rối rắm bởi nguyên lý kinh tế nằm đằng sau nó

Nguyên nhân chính cho sự chênh lệch giá cả khá lớn này đó chính là những phí “giao dịch liên quan”. Đó bao gồm tất tần tật mọi chi phí một người phải bỏ ra bên cạnh chi phí của sản phẩm để có được nó ( chi phí thời gian, chi phí xăng xe, chi phí tìm hiểu,… ) Nếu các chi phí giao dịch liên quan này bằng 0, 90% người tiêu dùng sẽ lựa chọn mua sản phẩm với giá rẻ hơn thay vì bỏ tiền cho sản phẩm mắc hơn với cùng nhãn hiệu và chất lượng

Bằng một ví dụ vô cùng đơn giản và điển hình đó là chai trà xanh đóng chai trong siêu thị và cửa hàng tiện lợi, tác giả đã đề cập đến một nguyên tắc kinh tế vô cùng quan trọng trong đời sống dành cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Hiểu được cách vận hành của các phí giao dịch liên quan cho phép doanh nghiệp đạt được lợi nhuận tối đa của nó. Lựa chọn địa điểm phù hợp, chi phí vận hành tối ưu là những điều cần thiết để sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu mua sắm và hầu bao của khách hàng

2.2 Tại sao các mặt hàng như tivi và máy chụp ảnh kĩ thuật số ngày càng rẻ hơn?

Một chiếc tivi 10 năm trước so với chiếc tivi trong năm nay tại sao càng ngày càng hiện đại hơn nhưng giá cả lại giảm? Tại sao lại có một nghịch lý như vậy trong kinh doanh những mặt hàng công nghệ này?

Có hai nguyên nhân chính được đề cập trong cuốn sách này

Đầu tiên là vì “tính kinh tế theo quy mô”. Đây là thuật ngữ trong kinh tế để chỉ chi phí trên mỗi sản phẩm sẽ giảm khi quy mô của nó càng tăng. Trong chương này, tác giả đã lý giải chi phí của một sản phẩm một cách đơn giản và dễ tiếp cận nhất đối với người đọc. Chi phí của một sản phẩm bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi. Khi mở rộng quy mô sản xuất, chi phí cố định trên mỗi sản phẩm sẽ được chia nhỏ ra, nhờ vậy mà chi phí tổng cũng giảm đi.

Thứ hai đó chính là “tính kinh tế theo phạm vi” do một sản phẩm tích hợp được nhiều tính năng sẽ giúp giảm những chi phí giao dịch liên quan, nhờ đó giá thành hạ xuống.

Hiểu được nguyên tắc và lý do vì sao những sản phẩm kĩ thuật ngày càng hiện đại nhưng lại giảm giá giúp người tiêu dùng có thể lựa chọn phù hợp sản phẩm theo nhu cầu của mình thay vì mua sắm quá nhiều

2.3 Bán sản phẩm ở mức giá tối đa mà mỗi khách hàng phải trả

“Nhà sản xuất sẽ bán một sản phẩm giá cao cho người chấp nhận mua với giá cao, bán giá thấp cho người chỉ đồng ý mua với giá thấp.”

Trong chương này, tác giả đã đề cập đến một thuật ngữ kinh tế có tên là “chính sách phân biệt giá”. Mỗi người tiêu dùng sẽ có khả năng chi trả tối đa cho mỗi sản phẩm là khác nhau, đó gọi là mức giá sẵn sàng chi trả. Nếu doanh nghiệp ra giá cho mỗi sản phẩm cao ngay từ ban đầu thì những người sẵn sàng chi trả mức giá thấp hơn sẽ không thẻ mua sản phẩm, vì vậy chiến lược giá giảm dần để phù hợp với nhiều nhóm đối tượng ở nhiều mức giá khác nhau có thể đẩy doanh thu đến mức tối đa,

2.4 Tại sao các gói dịch vụ cho điện thoại di động lại phức tạp và sự phức tạp đó nhằm mục đích gì

Đầu tiên, dễ nhận thấy nhất đó chính là việc cung cấp số lượng lớn các gói dịch vụ khác nhau giúp doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu của nhiều nhóm người tiêu dùng khác nhau. Việc tạo ra nhiều gói cước mang tính cá nhân hóa cao hơn giúp khách hàng có nhiều sự lựa chọn phù hợp với bản thân, từ đó họ dễ dàng móc hầu bao chi trả hơn

Đồng thời, đưa ra nhiều lựa chọn có thể làm khách hàng bối rối và dễ dàng sa vào những chiếc bẫy của doanh nghiệp. Khi hệ thống các gói dịch vụ càng phức tạp và càng nhiều, người tiêu dùng không thể lựa chọn đúng gói phù hợp nhất với bản thân. Chính vì thế, nhiều trường hợp người tiêu dùng lựa chọn sai gói cước và khi muốn thay đổi, họ phải cân nhắc đến những cước phí hoặc khuyến mãi mà họ sẽ mất đi, đó là lỗ hổng to lớn cho các doanh nghiệp có thể chiếm hời

“Nhờ sự rắc rối trong việc chọn lựa gói cước, nên mỗi lần khách hàng muốn thay đổi gói cước, họ phải chịu tốn thêm chi phí giao dịch liên quan khá cao. Nhưng cũng nhờ hệ thống giá theo kiểu này mà doanh nghiệp có khả năng tạo ra sự “phân biệt giá” và thu về lợi nhuận cao. Vậy, ta có thể hiểu rằng, việc doanh nghiệp áp dụng hiệu quả chính sách “phân biệt giá” là yếu tố quyết định người tiêu dùng đang tiết kiệm được hay tốn kém thêm chi phí giao dịch liên quan.”

2.5 Khi mua cà phê ở Starbucks, ta nên chọn cỡ nào?


“Tiết kiệm chi phí liên quan có lợi cho cả người sản xuất và người tiêu dùng.”

Ở chương này, tác giả đi sâu vào tất cả các chi phí của một sản phẩm mà mỗi người tiêu dùng phải bỏ ra để mua nó. Giá của một cốc cà phê không chỉ là giá của sữa, đường, ly nước mà còn là giá của nhân viên phục vụ, của không gian quán, của điện nước, máy lạnh,.. gọi chung là các dịch vụ khác. Chính vì vậy, rõ ràng người mua không chỉ mua sản phẩm mà còn là mua dịch vụ kèm theo của sản phẩm đó. Điều này cũng lý giải vì sao một cốc cà phê up size có thể gấp đôi so với ban đầu lại có giá chỉ bằng một nửa, bởi lẽ chi phí tăng thêm cho mỗi ml cà phê không đáng kể.

Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập tới việc “các ngành liên quan tận dụng công nghệ thông tin để hạn chế các giao dịch liên quan”. Một số ví dụ được tác giả đề cập đến như sự cắt giảm chi phí trong tìm hiểu số lượng doanh nghiệp cạnh tranh, số lượng sản phẩm được ưa chuộng hiện nay,……giúp giá bán của sản phẩm giảm, từ đó tăng doanh thu cho doanh nghiệp.

Quay về câu hỏi đề bài, vậy khi đến starbucks, ta nên mua cỡ nào là có lợi nhất?

Câu trả lời là size lớn nhất sẽ mang đến nhiều lợi nhuận nhất cho công ty và đồng thời khách hàng được hời nhiều nhất. Vì chi phí phát sinh trên mỗi nguyên liệu sử dụng không đáng kể, chính vì vậy doanh nghiệp có thể thu đợi lượng doanh thu lớn hơn, ngược lại, người tiêu dùng được số lượng cà phê nhiều hơn với số tiền chỉ bằng một nửa và đôi bên đều có lợi trong trường hợp này

2.6 Bí mật về giá rẻ của cửa hàng đồng giá

Về cơ bản, mỗi sản phẩm đều có giá trị gốc và giá trị tăng thêm. Giá trị tăng thêm tức giá trị mỗi cấp sản xuất trước khi đến tay người tiêu dùng để tạo thành sản phẩm. Mô hình cửa hàng đồng giá là mô hình đơn giản cắt giảm các cấp của quá trình này, khiến giá trị tăng thêm về mức tối thiểu và giá sản phẩm về gần với mức giá gốc. Như vậy, rất nhiều mặt hàng đã được giảm giá và được bán đồng giá với nhau

“Cửa hàng đồng giá sẽ không bán những sản phẩm đặt theo yêu cầu. Vì chi phí vận chuyển từng đơn vị hàng hóa đó đến cửa hàng sẽ rất tốn kém.”

Tuy nhiên ở chương này, tác giả có miêu tả “những người chỉ quan tâm đến giá gốc của sản phẩm tại cửa hàng đồng giá là những khách hàng không khôn ngoan”, bởi lẽ mua sắm dựa trên nhu cầu thay vì mức giá gốc mới là cách tiêu dùng khôn ngoan nhất

“Nếu đang cần đến sản phẩm ấy và cửa hàng 100 yên là nơi bán giá rẻ nhất thì bạn vẫn nên mua tại đó, cho dù giá gốc của sản phẩm chỉ khoảng 10 yên. Và ngược lại, dù có bắt gặp một sản phẩm có giá gốc 120 yên mà được bán với giá 105 yên tại cửa hàng đồng giá, bạn cũng không nên mua nếu không thực sự có nhu cầu.”

2.7 Tại sao việc điều chỉnh chênh lệch thu nhập lại khó khăn

“So với chênh lệch thu nhập, chênh lệch tài sản là vấn đề nan giải hơn nhiều”

Ở chương này, tác giả chỉ ra rằng có những yếu tố ảnh hưởng sự khác biệt giữa người có thu nhập thấp và thu nhập cao đó chính là yếu tố “địa vị”. Đó có thể là bất động sản, cổ phiếu mà cha mẹ để lại, tài sản thừa kế,… Như vậy, chênh lệch này rất khó có thể xóa bỏ.

Tuy nhiên, một người có thu nhập thấp vẫn có thể vươn lên với mức thu nhập cao hơn bằng những cách khác: đó là việc hiểu được năng lực bản thân và tìm đúng hướng đi. Trong kinh tế học, đó gọi là lợi thế cạnh tranh của một người. Tác giả đã đưa ra một ví dụ minh họa vô cùng đơn giản và dễ hiểu. Cùng một khối lượng công việc giữa nhân viên A và B, nếu A làm nhanh và tốt hơn B, tức A đang có lợi thế cạnh tranh về mảng này. Song điều đó không có nghĩa là B là kẻ thất bại hoặc vô dụng, mà B có thể có lợi thế cạnh tranh hơn với A trong phần công việc khác. Tuy nhiên để xác định lợi thế cạnh tranh của một người còn phải dựa vào chi phí cơ hội bỏ ra để một người làm công việc đó. Chi phí cơ hội càng thấp càng chứng tỏ người đó có lợi thế cạnh tranh. Việc hiểu rõ lợi thế cạnh tranh của bản thân giúp một người tiến xa và làm tốt công việc của mình trong tương lai

Đồng thời, tác giả cũng đưa ra nhận xét “việc chỉ sử dụng ngoại hình hay bằng cấp skhông thực sự mang lại nhiều tiền”. Thoạt nhiên, câu nói này có lẽ sẽ gây tranh cãi, tuy nhiên khi đi sâu vào phân tích và những ví dụ thực tế được đưa ra, ta sẽ không khỏi cảm thấy chúng có một phần khá đúng. Không thể phủ nhận tầm quan trọng của bằng cấp và ngoại hình trong xã hội hiện nay, tuy nhiên, chỉ việc dựa vào một trong hai thứ để đạt được mức thu nhập cao thì khá khó ( tất nhiên là đã loại trừ những ngành nghề đặc thù như bác sĩ, ….) . Bằng cấp không thể phản ánh toàn bộ năng lực thực sự của một người, chính vì vậy, cốt lõi nhất của việc có thể có mức thu nhập cao hơn vẫn chính là khả năng và nỗ lực của mỗi người thay vì những yếu tố khác

2.8 Chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em liệu có thực sự có tác dụng tích cực trong việc nuôi dưỡng chúng?

“Khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em làm gia tăng sự bất bình đẳng”

Đầu tiên, đó là việc sụt giảm nguồn nhân lực y sĩ trong khoa sản nhi. Việc miễn phí khám chữa bệnh làm những phụ huynh đưa trẻ em đến bệnh viện trong cả những trường hợp không thực sự cần thiết, điều này làm hao tổn thời gian, chi phí, nhân lực của các y bác sĩ.

Thứ hai, đó là việc tăng sự thâm hụt ngân sách địa phương. Nguồn tiền lớn nhất mà chính phủ dùng để chi trả đó chính là tiền thuế. Việc miễn phí khám bệnh cho trẻ em làm tăng nguồn chi chuyển nhượng này, cuối cùng, đó là việc tăng thuế thu từ người dân để bù đắp vào tổn thất. Sau cùng, người dân phải gồng mình để đóng thuế, đó là một vòng luẩn quẩn khó thoát ra được

“Việc bản thân mỗi công dân yêu cầu chính phủ đưa ra những chính sách đơn giản thì tùy mức độ thay đổi mà những yêu cầu của chúng ta sẽ bị lợi dụng để phục vụ cho những mưu đồ thiếu minh bạch của các chính trị gia, từ đó nảy sinh nhiều vấn đề khó lường. Mỗi công dân chúng ta nên nghiêm túc và tỉnh táo hơn trong vấn đề trên.”

2.9 Những câu chuyện gần gũi với đời sống hằng ngày

Nên ăn thịt bò ở cửa hàng bít tết hay quán thịt nướng?

Tác giả có đề cập đến hai loại thỏa mãn mà khách hàng có được khi sử dụng thịt nướng, đó là “thỏa mãn do tính năng” và “thỏa mãn do cảm xúc tích cực”. Chính vì vậy, tùy mỗi khách hàng mỗi cảm giác thỏa mãn sẽ dẫn họ đến những lựa chọn khác nhau.

Với đồ nội thất, ta nên thực hiện công đoạn nào trước, vận chuyển hay lắp ráp?

Có sự chênh lệch đáng kể trong chi phí giữa việc lắp ráp và vận chuyển trước, đặc biệt đó là chi phí vận chuyển. Trước khi lắp ráp, sản phẩm có thể dễ dàng di chuyển, khuân vác và đóng thùng, tuy nhiên sau khi lắp ráp, sản phẩm cồng kềnh và khó vận chuyển hơn, điều này làm tăng chi phí phát sinh trong mỗi sản phẩm. Tuy nhiên, cũng cần xét đến những chi phí khác như chi phí thời gian của chủ nhà, kĩ thuật lắp ráp của mỗi người và sự sai sót có thể xảy ra khi lựa chọn lắp ráp sau khi vận chuyển

Và còn rất nhiều, rất nhiều vấn đề xung quanh cuộc sống được tác giả đề cập như giá gói cước điện thoại vì sao lại rất rẻ, việc các nhãn hàng nhắm đến phụ huynh có trẻ em phần lớn là vì sao,… được giải thích rất đơn giản và dễ hiểu trực quan

3. Đánh giá

Có thể nói, “đến starbucks mua cà phê cốc lớn” là phiên bản dễ hiểu hơn của cuốn giáo trình kinh tế vi mô. Ở cuốn sách, tác giả đã lý giải cho người đọc cách vận hành đơn giản của những giao dịch mà chúng ta thực hiện hằng ngày, những “cạm bẫy marketing” mà doanh nghiệp giăng ra, và để người đọc – dẫu không thuộc chuyên ngành kinh tế, cũng có thể hiểu được cách thị trường vận hành xung quanh cuộc sống. Tác giả đã giải thích những vấn đề kinh tế một cách đơn giản và dễ hiểu nhất đến với người đọc bằng những ví dụ rất gần gũi quen thuộc, đặc biệt hơn, điều tôi thích nhất ở cuốn sách đó là việc ở mỗi chương, tác giả đều có những hình ảnh minh họa cho vấn đề để người đọc dễ hình dung hơn thay vì chỉ đưa những lý thuyết khô khan sáo rỗng.

Từ việc thấu hiểu đó, người tiêu dùng có thể mua sắm khôn ngoan và phù hợp nhất với bản thân thay vì rơi vào những chiếc bẫy kinh tế. Đúng như cách tác giả có viết trong cuốn sách như một lời nhắn nhủ

“Điều quan trọng ở đây là tự bản thân mỗi người tiêu dùng tự nhận thức xem trong thời điểm hiện tại, đâu là sở thích, năng lực và mô thức hành động của bản thân giống với nhiều người và sở thích, năng lực và mô thức hành động nào khác biệt hay chúng ta phải tự biết cách phân tích bản thân mình. Độ chính xác của phân tích càng cao, ta càng dễ xoay xở hơn trong cuộc sống. Ngoài ra, nếu có thể phân tích hoàn chỉnh những điểm khác biệt của bản thân thì dù bản thân ta không có điểm nào thực sự vượt trội hơn người khác, sẽ vẫn luôn có những vị trí để ta cống hiến hết khả năng của mình cho công việc.”

Tóm tắt bởi: Mai Thúy – Bookademy.

Hình ảnh: Mai Thúy – Bookademy. 

Nguồn: https://ybox.vn/vien-sach-bookademy/tom-tat-and-review-sach-den-starbucks-mua-ca-phe-coc-lon-nhung-van-de-kinh-te-xoay-quanh-cuoc-song-chung-ta-68617c72dcd3597084d1850f

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

two × 1 =