Đặng Thai Mai bậc thầy lớn thế hệ chúng tôi

GS Đặng Thai Mai
Nhớ Đặng Thai Mai
– bậc thầy lớn của thế hệ chúng tôi
PHONG LÊ
NVTPHCM- Không chỉ thế hệ chúng tôi mà còn là nhiều thế hệ đàn anh khả kính của tôi. Bởi tiếp xúc với họ, tôi thấy khi nhắc đến ông, ai cũng trân trọng gọi ông là Thầy.
Còn thế hệ tôi – lớp sinh viên khóa 1 Đại học Tổng hợp (1956-1959) đã được nghe ông giảng ở nhiều môn. Nghe tên ông từ nhỏ, đến tuổi mười tám mới được tiếp xúc với ông, thấy không ngoài tưởng tượng là mấy: sự nghiêm trang trong ăn mặc, nghiêm túc và uyên thâm trong nội dung và phương thức giảng, một khoảng cách cần thiết dành cho sự kính trọng…
Sau ba năm ở bậc đại học, cuối 1959 tôi được phân công về Viện Văn học, lúc này thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước. Về một mình. Cũng chưa từng nghe có một Viện Văn học như thế. Bởi đến giữa 1959 Viện Văn học mới ra đời. Và hai bậc thầy của tôi ở đại học được cử làm Viện trưởng và Viện phó – đó là Đặng Thai Mai và Hoài Thanh. Từ là thầy, chuyển sang thủ trưởng – cả hai, đối với tôi đều không lạ.
Từ đây, cuối 1959 tôi trở thành nhân viên tập sự, người học việc, rồi trợ lí nghiên cứu trẻ nhất của Viện. Cũng từ đây tôi có một ngôi nhà chung, một gia đình lớn ở địa chỉ 20 Lý Thái Tổ. Một gian ở mười một mét vuông trong một dãy nhà tập thể khép nép ở phía sau – đó là nơi gia đình nhỏ bốn người của tôi tá túc cho đến đầu thập niên 1980…
Trong hai vị thủ trưởng, tôi được tiếp xúc nhiều hơn với Hoài Thanh, vì ông phụ trách văn học Việt Nam hiện đại, và là Thư kí tòa soạn (tức Tổng biên tập) tập san Nghiên cứu văn học, sau đổi là Tạp chí Văn học – nơi tôi được giao chữa bông và đi nhà in. Còn Đặng Thai Mai phụ trách văn học cổ điển, và ở cấp trưởng lo chung mọi việc. Nói là lo chung, nhưng thực chất việc quản lí hành chính, tổ chức, nhân sự, đoàn thể, ông đều “khoán” hết cho Hoài Thanh với một yên tâm tuyệt đối. Với Hoài Thanh, tôi được tiếp xúc và làm việc dưới quyền ông từ 1960 đến 1969 là năm ông chuyển sang Hội Nhà văn. Còn Đặng Thai Mai – cho đến năm 1975 là năm ông nghỉ hưu ở tuổi bảy ba; và thỉnh thoảng còn được thăm ông ở phố Nguyễn Huy Tự cho đến 1984 là năm ông qua đời.
*
* *
Với tôi, Đặng Thai Mai trước hết là một học giả uyên thâm trên nhiều lĩnh vực Đông – Tây, kim – cổ. Tuổi học sinh cấp hai, tôi đã được làm quen với Thi nhân Việt Nam, Nhà văn hiện đại, Kinh Thi Việt Nam và Văn học khái luận… Về sau, khi đi vào công việc nghiên cứu tôi mới có hoàn cảnh để đánh giá – đây là những bộ sách “kinh điển” thuộc các lĩnh vực nghiên cứu, lí luận, phê bình được xếp vào ô khoa học văn chương, bên cạnh nghệ thuật văn chương; cả hai làm nên diện mạo hiện đại cho văn chương học thuật Việt Nam, sau 30 năm chuẩn bị mà đến với mùa gặt đầu tiên rất ngoạn mục là mùa gặt 1930-1945. Cả hai, phải có cả hai – mới có thể nói đến sự hoàn thiện diện mạo hiện đại của nó; trong đó, nếu khu vực nghệ thuật văn chương xuất hiện sớm hơn thì khu vực khoa học văn chương tuy muộn nhưng vẫn kịp có gương mặt hoàn chỉnh trong thời kì 1941-1945, mà những bộ sách tôi ghi ở trên của Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu, Đặng Thai Mai là những kết tinh trọn vẹn.
Để hiểu Đặng Thai Mai là một tên tuổi tiêu biểu thuộc thế hệ vàng của văn chương – học thuật Việt Nam hiện đại.
Không chỉ có tư thế một học giả với kiến thức rộng và uyên thâm, một bậc thầy của nhiều thế hệ trò, Đặng Thai Mai còn là người giữ nhiều cương vị cao trong hệ thống chính quyền Dân chủ Cộng hòa. Là Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong Chính phủ Hồ Chí Minh ngay sau ngày Cách mạng thành công. Là Chủ tịch Ủy ban hành chính Thanh Hóa khi cuộc kháng chiến mới bắt đầu. Là Chủ tịch đầu tiên của Hội Văn hóa Việt Nam thành lập năm 1948, và sau đó là Chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Nam – gần như suốt đời, cho đến 1975. Không kể ông có ba con rể đều là cấp tướng trong quân đội, trong đó có một vị là bậc khai quốc công thần được toàn dân yêu mến và ngưỡng mộ.
Từ các vị trí cao như thế, đồng thời kiêm nhiệm Viện trưởng, các thế hệ công nhân viên Viện Văn học bao giờ cũng nhìn ông với một sự cung kính đặc biệt. Nhà ở phố Nguyễn Huy Tự, hàng ngày hoặc hàng tuần ông đến Viện trên chiếc Moskvich màu đen, loại xe “xoàng” nhất trong các loại xe dành cho cán bộ cấp cao – như Volga hoặc Lada, với người lái xe là ông Cần. Trong khi các thủ trưởng khác như Hoài Thanh thì đi xe đạp, còn Hoàng Trung Thông thì đi bộ. Ở một khoảng cách cao vời như thế nên lớp cán bộ trẻ như chúng tôi ít khi được gần ông, và cũng không chắc ông đã biết tên. Chẳng riêng ông, mà cả Hoàng Trung Thông, Hoàng Trinh – hai đời Viện trưởng sau ông, khó nói là các vị biết được hết tên tuổi cán bộ trong Viện, chỉ khoảng trên năm mươi người. Cả một thời lãnh đạo đều như thế, và nơi đâu cũng thế!
Nhưng không phải vì thế mà chúng tôi xa lạ với các vị. Trái lại, vẫn rất cung kính, bởi nhìn vào cung cách lãnh đạo, quản lí, và các mối quan hệ giữa các vị thì phải nói là rất đáng nêu gương. Chẳng hạn cách ứng xử của Đặng Thai Mai đối với Hoàng Ngọc Phách, Hoài Thanh, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều, Vũ Ngọc Phan luôn luôn là một sự tương kính, tương thân. Tin cậy tuyệt đối ở Hoài Thanh nên gần như toàn bộ công việc nội bộ của Viện ông giao cho Hoài Thanh. Tin cậy sự uyên bác của Cao Xuân Huy – người hơn ông hai tuổi, nên những bản thảo nào đã giao cho Cao Xuân Huy khảo duyệt ông không cần xem lại. Tình bạn với Phạm Thiều – người kém ông hai tuổi, gần như vẫn giữ nguyên như hồi cùng học Quốc học Vinh, khi Phạm Thiều thôi Đại sứ Tiệp Khắc về tổ Hán Nôm của Viện. Những họp hành, hẹp hoặc rộng do ông chủ trì không bao giờ có to tiếng hoặc cãi cọ.
Có thể hình dung Viện như một gia đình êm ấm, do có một vị gia trưởng nhiều quyền uy, nhưng chưa bao giờ phải đụng đến quyền.
Cùng Hoài Thanh lãnh đạo Viện đến năm 1969 – một “cặp đôi hoàn hảo”, tôi muốn nói như thế, bởi sự đồng hành mười năm ở Viện, và còn dài hơn thế, là ở Hội Văn nghệ Việt Nam – 51 Trần Hưng Đạo, một người là Chủ tịch Hội, một người là Tổng thư kí Hội. Không nói còn nhiều sự đồng hành khác trong chuyên môn, học thuật. Cả hai đều là chuyên gia – rất hiểu và rất yêu một bậc tiền bối đồng hương là Phan Bội Châu, trong tư cách là người yêu nước và nhà thơ xứ Nghệ lớn nhất đầu thế kỉ. Một người viết Văn thơ Phan Bội Châu, năm 1957 trước khi về Viện. Một người viết truyện danh nhân Phan Bội Châu, năm 1978 sau khi nghỉ hưu. Trong kháng chiến chống Pháp, một người viết Giảng văn “Chinh phụ ngâm”, một người viết Nói chuyện thơ kháng chiến; một người viết Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kì văn hóa Phục hưng, một người viết Quyền sống con người trong “Truyện Kiều”. Hơn Hoài Thanh bảy tuổi nhưng Đặng Thai Mai lại là người viết và đọc điếu văn cho Hoài Thanh, hai năm trước khi qua đời.
Có thể nói thêm một ít đối ứng về văn phong. Đây là hai bậc thầy không chỉ trên nhiều phương diện của cuộc sống và nghề nghiệp mà cả về văn phong. Được đọc ở tuổi học trò, rồi được học ở đại học, rồi được nghiền ngẫm chí thú sau khi vào nghề, điều may mắn cho tôi là được tiếp cận với hai bậc thầy rất đặc sắc về văn phong. Đâu phải chỉ sáng tác mới cần đến văn! Chính nghiên cứu, phê bình lại càng cần đến văn, cần đến một thâm hậu về trí tuệ, một tinh tế trong cảm xúc, và một cân nhắc rất kĩ lưỡng trên từng câu văn, từng chữ dùng cho đến các dấu chấm, phẩy… để, với một cách xử lí đặc thù ở từng người, khiến chỉ cần đọc văn cũng đủ biết người đó là ai. Không chờ đến khi về Viện, tôi đã từng thuộc lòng nhiều đoạn văn của Hoài Thanh nơi chương viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, và của Đặng Thai Mai trong Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX. Còn trên tạp chí Văn học thì bất cứ bài viết nào của hai vị tôi cũng đều có hạnh phúc được nhấm nháp, hoặc nghĩ ngẫm trong tư cách một người đọc đầu tiên trên các bông in, trước khi tạp chí ra đời; như các bài về Truyện nhà kị sĩ Đôngkisốt, về Shakespeare, về Hồ Chí Minh và Tố Hữu…
Sau khi Hoài Thanh chuyển sang Hội Nhà văn, từ 1970 đến 1975 Đặng Thai Mai có ba cấp phó là Hoàng Trinh, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Minh Tấn, vào lúc Viện Văn học trả lại chức năng phê bình cho Hội Nhà văn để tập trung cho công tác nghiên cứu và viết lịch sử văn học. Lúc này ông đã vào tuổi bảy mươi nên ít đến Viện. Ông đã mời Hoàng Trung Thông, một nhà thơ đồng hương, vừa là đồ Tây, vừa là đồ Nho xứ Nghệ, đương chức Vụ trưởng Vụ Văn nghệ – Ban Tuyên giáo Trung ương, kém ông hai mươi ba tuổi về làm Viện trưởng thay ông, sau năm 1975.
Là người lãnh đạo cao nhất của Viện Văn học từ 1959 đến 1975, lại vừa là Chủ tịch Hội Văn hóa, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam từ 1948 đến 1975, Đặng Thai Mai có một vị trí cao nhất trong giới sáng tác và nghiên cứu văn hóa, văn học, nghệ thuật. Cũng có nghĩa là nếu những thành tựu lớn của sáng tác và nghiên cứu, giảng dạy văn học, và các lĩnh vực khoa học nhân văn và xã hội ở cả ba nơi: Hội Nhà văn, Viện Văn học, và các khoa văn đại học – đều có sự đóng góp của ông, thì những “bất cập” và “hạn chế” của nó, ông cũng có phần trách nhiệm. Nếu trong kháng chiến chống Pháp, Hoài Thanh quyết liệt phủ định Thơ mới và Thi nhân Việt Nam, cho rằng “Những câu thơ buồn nản hay vẩn vơ cũng đều là bạn đồng minh của giặc”(1) thì Đặng Thai Mai cũng từng có lúc đánh giá không cao lắm di sản văn học của cha ông: “Ta chưa có một nền văn học cao cấp là vì ta chưa hề có một nền văn học bình dân”(2). Trong những cuộc đấu tranh tư tưởng lớn như Nhân văn – Giai phẩm, và các “vụ”, “việc” đưa đến “tai nạn nghề nghiệp” cho các đồng nghiệp trong đó có những người rất sáng giá thường qua lại, trò chuyện với ông, ít thấy có ông tham gia, nhưng chắc chắn không có nghĩa là ông đứng ngoài. Trong một tổng kết quan trọng về đấu tranh tư tưởng và học thuật hồi cuối thập niên 1950, ông có bài Căn bản vẫn là vấn đề lập trường tư tưởng… để hưởng ứng các văn kiện của Đảng và các bài viết, bài nói của Trường Chinh và Tố Hữu. Trong sách Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX ông viết về Phạm Quỳnh “tiên sinh kính trắng” như là “một người đã đọc khá nhiều sách và đã đem học thức bán rẻ cho bọn thống trị”, là một “nhà học giả có đủ chữ Hán và tiếng Việt để bịp người Tây; và cũng có đủ chữ Tây để lòe người An Nam”(3).
Qua đời năm 1984, ông chưa được hưởng ngọn gió Đổi mới, nhưng trước đó một năm – năm 1983, trong Hồi kí có đoạn ông viết: “Cụ Bùi hồi này (tức Bùi Kỉ) cùng với Trần Trọng Kim và Phạm Quỳnh là ba nhà trí thức cỡ lớn của thủ đô…”(4). Cũng tương tự như thế là Hoài Thanh, trước khi mất – năm 1982, đã nghĩ lại và nói với con trai trưởng Từ Sơn về giá trị của Thi nhân Việt Nam.
*
* *
Viện Văn học đến nay đã chẵn 55 tuổi. Trong dàn sáng lập gồm hàng chục tên tuổi sáng giá, Đặng Thai Mai là người lãnh đạo có uy tín cao nhất, bởi ông là hạt nhân của sự đoàn kết và một “sức mạnh tổng hợp”, nhờ đó mà tạo được một vị thế học thuật rộng rãi và tin cậy trong các giới sáng tác, nghiên cứu và giảng dạy không riêng trên miền Bắc, và cũng không riêng trong nước…
Các công trình nghiên cứu và dịch thuật của Cao Xuân Huy, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Đức Vân, Hà Văn Đại, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trần Thanh Mại, Phạm Thiều, Nam Trân, Đỗ Đức Dục, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Hoàng Trinh, Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Đức Đàn, Nguyễn Văn Hoàn… đều có dấu ấn riêng và đóng góp cho một thời đất nước trong chiến tranh và chia cắt. Sau 1975 đến 1985 là giai đoạn mới trong đấu tranh tư tưởng ở cả hai miền. Đời sống chính trị và học thuật gần như chưa lúc nào yên để có thể bắt tay vào bộ lịch sử văn học Việt Nam đã được khởi động khá rầm rộ từ đầu thập niên 1970; để với nó mà khai thác kho kiến thức giàu có, đủ đầy của Đặng Thai Mai, người xứng đáng là một điểm tựa học thuật lớn, một tổng chỉ huy (tôi không nói chủ biên) uy tín nhất. Món nợ ấy, lớp hậu sinh như chúng tôi rồi phải trả bằng nhiều giá…
Với tôi, đời của một cơ quan từ khi nó mang một cái tên, cũng như đời một con người, ai cũng có, cũng cần đến một lịch sử làm điểm tựa. Thời gian rồi sẽ lấp đầy những khoảng trống và đưa hôm nay vào quá khứ; để với nó mà hình thành một lịch sử mới, nối dài mà làm nên cái hậu cho một đời người, hoặc một cộng đồng người. Một cộng đồng, trong hơn nửa thế kỉ qua, lúc nào cũng chỉ trên dưới sáu mươi người, ở một địa chỉ là 20 Lý Thái Tổ, để cùng với 51 Trần Hưng Đạo, 65 Nguyễn Du, 4 Lý Nam Đế, 9 Nguyễn Đình Chiểu mà làm nên những tên gọi thân quen trong tâm thức bạn đọc thuộc các giới văn hóa, văn nghệ, văn chương, học thuật Việt trong hơn nửa thế kỉ qua
———–
(1) Nói chuyện thơ kháng chiến, Nxb Văn nghệ, 1951.
(2) Văn học bình dân và văn học cao cấp, Tập san Sáng tạo số 2 (4-1948) và số 3 (11-1948).
(3) Nxb Văn hóa, 1961, tr.96.
(4) Nxb Tác phẩm mới, 1985, tr.292.
THEO VNQĐ






![[Review Sách] “Nhà Giả Kim”: Khi Bạn Quyết Tâm Muốn Điều Gì Thì Cả Vũ Trụ Sẽ Tác Động Để Giúp Bạn Đạt Mục Đích Đó](https://diemsach.info/wp-content/uploads/2020/06/1590237472364-NHÀ-GIẢ-KIM-100x70.png)




