Điểm sách: “Tây Âu trong tiến trình phát triển kinh tế-Con đường đưa thế giới đến thịnh vượng”- ULRIKE HERRMANN

0
157
Hình ảnh có liên quan

Tác giả: Ulrike Herrmann

Sau khi hoàn thành khóa đào tạo nghiệp vụ ngân hàng bà đã theo học trường Báo chí Henri-Nannen-Schule, trước khi tốt nghiệp bộ môn Lịch sử và Triết học tại Đại học Berlin. Là cộng sự viên của Hội Kober-Stiftung và sau đó là phát ngôn viên cho Krista Sager, Bộ trưởng bang Hambourg, trước khi phụ trách trang kinh tế cho nhật báo « taz » (Die, Tageszeitung) ở thủ đô Berlin. Bà đại diện tòa báo tham gia một số chương trình phát thanh và truyền hình Đức về các đề tài kinh tế và xã hội.


 
Lâu nay khi làm việc cứ ào ào, sử dụng từ ngữ theo cảm tính giữa: đổi mới, cải cách và cách mạng. Lờ mờ hiểu rằng cái kia nghĩa lớn hơn cái này, vậy thôi. Nay chậm lại, đọc đạch tu bổ “từ ngữ” tí cho bớt sai lỗi “chính tả”.
 
Giờ thì hiểu đổi mới là cái diễn ra hàng ngày tỉ như hôm qua dùng Nokia để alo hôm nay dùng iPhone; Cải cách là sự điều chỉnh cấu trúc bên trong tỉ như trưởng thành rồi mà hôm qua mọi thứ Bố cứ quyết định nhưng từ hôm nay trở đi Con sẽ tự quyết lấy; Còn cách mạng, từ bé cứ nghĩ đến từ này là thấy sợ vì toàn tưởng tượng ra cảnh cầm cờ, gậy gộc… phang nhau, một thằng sống và một thằng chết – Rõ rồi, cách mạng là cái mới thay thế cái cũ xuất phát từ “sự bùng nổ” những mâu thuẫn của cái cũ.
 
Những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
 
Chẳng có gì “ghê gớm” lắm nhưng đọc cuốn Tây Âu – Trong tiến trình phát triển kinh tế của Ulrike Herrmann sẽ giúp ta hệ thống hóa những hiểu biết vụn vặt về quá trình hình thành nền kinh tế tư bản, đặc biệt là Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thế giới.
 
Cuộc cách mạng lần thứ nhất xuất phát từ nước Anh cuối TK18 đầu 19 trong việc cơ khí hóa quy trình sản xuất vải, máy móc quy mô lớn ra đời thay thế cho lao động chân tay quy mô nhỏ; Kế đó, Cuộc cách mạng lần thứ hai bắt đầu vào nửa cuối TK19 (1850s) khởi phát từ việc phát minh ra máy hơi nước của James Watt 1784 rồi hàng loạt phát minh như động cơ đốt trong, máy móc sử dụng điện…; Cuộc cách mạng lần thứ ba được ghi nhận bắt đầu vào những thập niên 1960s khi có các tiến bộ vượt bậc về điện, điện tử, công nghệ số hóa (máy tính, internet); Và nay, bắt đầu TK21 chúng ta đang nói đến cái gọi là Cuộc cách mạng lần thứ tư phát triển trên nền tảng các cuộc cách mạng trước đó với thành tựu là Trí tuệ nhân tạo, Robot, 3D, Nano, vật liệu mới… Một bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người đang ở ngay trước mắt.
 
Thú vị là ở chỗ Ulrike Herrmann đã kể cho ta biết về sự khởi phát công cuộc kỹ nghệ hóa không xuất phát từ London thành thị, không bắt đầu từ sự nghiên cứu khoa học, kinh tế tư bản không bắt đầu từ cách mạng tri thức…mà nó bắt đầu từ lĩnh vực nông nghiệp tại một vùng quê nghèo nhất nước Anh nằm phía Đông Bắc, Manchester. Ngày đó, người Anh phải chi 60% thu nhập cho lương thực mà những sản phẩm khác cũng đều có nguồn gốc chăn nuôi trồng trọt như vải dệt từ sợi cây lanh, len da thuộc từ gia súc, nhà cửa tàu bè làm từ gỗ… Thấy rõ là nếu thực phẩm và nông sản rẻ đi sẽ giúp người dân có dư tiền để mua các sản phẩm khác.
 
Anh là nước thoát khỏi chế độ phong kiến khá sớm. Phương thức sản xuất tư bản trong nông nghiệp ở Anh không hề được trù tính trước. Vua Henry VIII ly dị công chúa TBN Katharina, đoạn giao với Giáo hoàng La Mã và tự xưng là Giáo chủ Giáo hội Anh. Điền sản tu viện bị tịch thu, phát mại cho quý tộc & thương nhân, chuyển đất công hữu sang tư hữu. Ra đời 4000 điền chủ kiểm soát 60% đất canh tác, họ khoán cho khoảng 250k tá điền, tá điền thuê 1,25 tr lao động cày cấy cho họ. Được quản lý với “bàn tay sắt”, năng suất đầu người tăng gấp đôi.
 
Hiểu rằng, thành công này được tạo ra bởi: đất đai chuyển sang tư hữu, giao kèo dài hạn được thiết lập giữa điền chủ và tá điền. Họ có quyền giữ lại phần thặng dư, chủ đất không được chiếm đoạt. Theo Ulrike, hiện tượng sở hữu được bảo vệ này là có một không hai ở C. bấy giờ. Tá điền trở thành nhà tư bản nông nghiệp, luôn tìm cách gia tăng năng suất đất đai.
 
Động lực là phải tăng năng suất. Đầu TK18, họ đã thay thế phương thức luân canh bằng việc trồng cỏ tam điệp / cải củ xen kẽ, không cần phải để đất nghỉ sau mỗi 2 năm nữa – năng suất tăng cao. Lá tam điệp và lá cải dùng để chăn nuôi… chuỗi chăn nuôi trồng trọt vì thế mà phát triển; đời sống nông dân tăng cao do chi cho lương thực giảm, phần dôi dư nhiều hơn phát sinh nhu cầu khác. Thị trường nội địa mới hình thành.
 
Câu chuyện cuộc cách mạng lần thứ nhất xuất phát từ miền quê nước Anh hiện rõ. Mức sống khá lên đẩy mức lương tăng cao khiến hàng hóa Anh khó cạnh tranh với bên ngoài. Lối thoát duy nhất đó là máy móc phải làm việc thay người. Hàng loạt các phát minh tiêu biểu ngành dệt ra đời: máy Flying Shuttle của John Kay, Spinning Jenny của James Hargreaves…và đột phá nằm ở sáng chế máy dệt chạy bằng lực hơi nước Water Frame của Richard Arkwright, Power Loom… dẫn đến giá vải dệt năm 1850 chỉ bằng 1/5 so với năm 1800. Thành quả là người Anh bán vải khắp thế giới trong khi năm 1840 mới xuất hiện máy kéo sợi ở các nước C. khác. Năm 1870 trở đi ngành sản xuất sợi và dệt vải của nước Anh được chuyển sang các nước TG thứ 3. Quá sớm!
 
Ulrike nhận định “lực đẩy thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển là ở mức lương cao” vì khi đó người ta mới đầu tư vào cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất. Thú vị hơn vì nước Anh còn sở hữu một kho báu khác mà các nước C. khác không có – mỏ than dễ khai thác. Đầu máy xe lửa hơi nước được phát sinh từ đây do nhu cầu vận chuyển than từ mỏ nhằm kết nối với hệ thống đường sông / kênh / biển gần nhất … chi phí vận chuyển thấp, giá nhiên liệu thấp. Hàng loạt các ngành sản xuất khác ra đời từ lợi thế này như: tinh cất muối từ nước biển, tinh cất đường, nấu thủy tinh, nung gạch v.v.
 
Cuốn sách chỉ ra CNTB Anh hình thành, phát triển dựa trên nhân công đắt & nhiên liệu rẻ. Sự kết hợp độc nhất vô nhị thời bấy giờ. Tại sao công cuộc kỹ nghệ hóa khởi đầu từ Anh đã được sáng tỏ. Với việc này, ta cũng hiểu thêm vì sao các nước khác cũng sở hữu mỏ than hay như lương nhân công thấp nhưng không phát triển được. Diễn giải trong cuốn Tây Âu này rất đáng suy ngẫm. Đọc đến đây, tôi chợt nghĩ đến dự án đồ sộ Dung Quất: xa vùng nguyên liệu khai thác, chi phí nhân công rẻ và dĩ nhiên cũng chẳng có “phát minh” nào.
 
Ở giai đoạn hai của cuộc cách mạng kỹ nghệ hóa, người ta không chỉ cần vốn, hàng loạt phòng thí nghiệm, nghiên cứu sản phẩm, phương pháp mới ra đời. Kết quả là nước Anh đã có thêm phân bón, phim bản dương, thuốc nổ, dược phẩm… Cuộc sống hàng ngày đã biến đổi cơ bản với điện tín, điện thoại, bóng đèn, động cơ chạy điện…máy thu thanh, tàu bay. Công cuộc kỹ nghệ hóa lần hai không gì ngăn cản nổi. Ulrike nói rằng, thời điểm đánh dấu sự phát triển xã hội phồn thịnh bắt đầu khoảng 1880 khi công đoàn độc lập được pháp luật thừa nhận dẫn đến mức lương tăng rõ rệt. Xã hội tư bản chuyển biến mạnh mẽ lần nữa, một xã hội tiêu thụ ra đời.
 
Còn tiền có ý nghĩa thế nào?
 
Ulrike viết rằng “tiền tự nó không tạo ra phồn thịnh mà là loại dầu bôi để xã hội vận hành trơn tru”. Sự phồn thịnh chỉ thực sự sinh ra khi tiền được đem đầu tư hôm nay nhằm tạo ra hàng hoá dịch vụ cho ngày mai. Có những thứ tốt cho cá nhân nhưng lại gây hại cho kinh tế quốc dân. Tiết kiệm cá nhân là ví dụ điển hình. Nó đúng đắn cho cá nhân nhưng sẽ gây hại cho kinh tế quốc gia bởi tiền nằm trong két tiết kiệm là tiền “chết” và về lâu dài sẽ mất giá trị. Giải pháp là nhà nước buộc phải nhảy vào điều hành sao cho giảm lượng tiền tiết kiệm nhằm thúc đẩy đầu tư để kinh tế tăng trường.
 
Trong quá trình xử lý khủng hoảng thời bấy giờ, người Anh đã hiểu ra tiền không được thế chấp bằng vàng mà bằng chính năng lực kinh tế quốc gia. Tiền tiết kiệm trong két, khu rừng không khai thác… ko phải là vốn tư bản.
 
Cuốn Tây Âu được gia vị thêm bởi những câu chuyện giờ mới biết. Một trong những lý thú đó là câu chuyện “tiền tự hao” của một thương nhân gốc Đức-Bỉ sống ở Argentina, Selvio Gesell. Nạn giảm phát đã gây thiện hại lớn cho Ông nên Selvio đã tự nghĩ ra một giải pháp theo đó tiền cần được làm mất giá đều đặn cứ sau một khoảng thời gian nhất định – tiền được đóng dấu – cho nên nếu không tiêu ngay thì tờ bạc sẽ ngày càng mất giá. Đây được gọi là lạm phát nhân tạo.
 
Tại sao nước Anh & Tây Âu phát triển?
 
Trong khuôn khổ cuốn sách, thông qua câu chuyện lịch sử hình thành các Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật xuất phát từ miền quê nước Anh gắn với câu chuyện khung cửi dệt vải, bắt đầu bằng việc cải cách sở hữu đất đai, tác giả muốn trao đổi về vai trò của sở hữu, thế nào là tư bản cũng như “lực đẩy” của CNTB. Theo đó, trên nền tảng lực đẩy của mức lương cao buộc họ phải tìm giải pháp tăng năng suất – máy móc ra đời bởi hàng loạt các phát minh khoa học kỹ thuật đã thay thế lao động chân tay. Kinh tế tăng trưởng, của cải dôi dư đã hình thành thị trường tiêu thụ mới. Cứ thế, nền sản xuất tư bản ra đời, phát triển trên nguyên tắc tiền chỉ được coi là tư bản khi nó được đầu tư hôm nay để tạo ra hàng hóa & dịch vụ cho ngày mai.
 
Vào cuối TK19, nước Anh đã bỏ xa nhiều nước Châu Âu khác trên bình diện năng lực kinh tế quốc gia. Thành quả này của nước Anh đã lan rộng khắp Châu Âu và thế giới, đã tạo nên làn sóng Cách mạng khoa học kỹ thuật nhờ đó đã góp phần tạo nên xã hội phồn thịnh ở Tây Âu & những quốc gia hòa cùng nhịp. Ulrike cùng nhiều tư liệu khác đã cho ta thấy muốn phát triển kinh tế trước hết phải tôn trọng thể chế thị trường tự do trên nền tảng tư hữu về đất đai; không gian tự do sẽ giúp con người tự do sáng tạo nhờ đó mà nhân loại có những phát minh vĩ đại – lực đẩy cho nền văn minh nhân loại. Cuối cùng nhưng chưa phải đã hết, tác giả muốn nhấn mạnh về sự phát triển bền vững với mong muốn chúng ta không được quên rằng tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn. Khi khai thác quá mức, ngoài việc làm cạn dần nguồn tài nguyên nó còn tác động xấu đến môi trường sinh thái – nghĩa là tự huỷ hoại những điều kiện cho phép mình tồn tại.
 
Quả không uổng khi đọc cuốn Tây Âu này. Một hình dung khá rõ và có hệ thống về sự hình thành Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật bắt đầu từ Anh. Cuộc sống vận động không ngừng luôn đòi hỏi sự đổi mới. Với những ai đang trăn trở với nhà máy, doanh nghiệp…của mình, thật hữu ích. Ở vi mô, năng suất luôn là câu chuyện trung tâm của sự phát triển. Song môi trường làm việc hầu mưu cầu tính hiệu quả của hệ thống, kích thích sự sáng tạo của con người và chủ động thay đổi nhằm tạo ra giá trị ngày càng tăng đối với mỗi “công việc” của chúng ta là điều kiện tiên quyết.
 
Gấp cuốn sách, đọng lại 2 từ “lực đẩy” và ấn tượng với câu chuyện “tiền tự hao” của Selvio Gesell. Trí tưởng tượng của con người thật vĩ đại!
 
CTV Nguyễn thế Duyệt

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

1 + 15 =