Ai là người cần đọc sách?
Trích tham luận Vì sao các nhà quản lý giáo dục cần phải đọc sách? của Nguyễn Thị Từ Huy tại Hội thảo “Sách và chấn hưng giáo dục”.
Ở đây chúng tôi không bàn tới ý nghĩa và tầm quan trọng không thể phủ nhận của sách đối với sự phát triển của từng cá nhân và đối với sự phát triển của xã hội. Chúng tôi suy nghĩ về việc làm thế nào để sự xuất hiện của sách và sự tồn tại của sách thực sự có tác dụng cho việc phát triển nền giáo dục của chúng ta hiện nay.
Câu trả lời là: Phải đọc sách. Và phải ứng dụng những điều đọc được trong sách.
Những câu hỏi tiếp theo có thể là : ai là người cần đọc sách ? Cần đọc sách như thế nào ? Do khuôn khổ một bài viết ngắn, chúng tôi sẽ chỉ tập trung vào câu hỏi thứ nhất.
Ai là những người cần phải đọc sách? Câu hỏi có vẻ ngớ ngẩn, vì dường như câu trả lời đã có sẵn: tất cả mọi người. Vậy mà thực ra không ngớ ngẩn tí nào, bởi vì ngày nay có quá ít người đọc sách, và quá ít người đọc những sách cần cho công việc của mình. Ở đây chúng tôi chỉ giới hạn sự khai triển vấn đề ở phạm vi lĩnh vực giáo dục.
Muốn phát triển giáo dục, ai là những người cần đọc sách? Dĩ nhiên, tất cả mọi nhân tố giáo dục đều phải đọc sách: những người quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh sinh viên, gia đình (phụ huynh học sinh).
Bài viết này chỉ tập trung vào nhân tố thứ nhất trong toàn bộ danh sách vừa nêu. Chúng tôi sẽ đề cập tới những tác nhân khác của giáo dục trong vấn đề đọc sách ở một dịp khác.
Vì sao các nhà quản lý giáo dục cần phải đọc sách?
Việt Nam cần có những người lãnh đạo hiểu rằng sự thành công trong sự nghiệp chính trị, hay sự thành công trong vai trò lãnh đạo không phải ở chỗ dành được một cái ghế nào đó, mà là ở chỗ: khi ngồi trên cái ghế đó họ làm được những gì để ghi lại dấu ấn của họ, để ghi lại giá trị của họ, để giúp cho sự phát triển của khu vực mà họ điều hành. Việt Nam cần có các nhà lãnh đạo biết sử dụng quyền lực để tạo ra sự phát triển thay vì bị quyền lực điều khiển và dẫn tới kìm hãm xã hội. Chúng ta cần những nhà lãnh đạo ý thức được điều mà John F. Kennedy, một trong những người từng đứng đầu nước Mỹ, nói tới trong bài diễn văn tưởng nhớ nhà thơ Robert Frost, ở đại học Amherst, Massachusetts, ngày 27/10/1963: “liệu chúng ta sử dụng quyền lực hay quyền lực sai khiến chúng ta”. Đấy chính là lý do để vị tổng thống này đánh giá cao thơ ca và nghệ thuật. Cũng trong bài diễn văn đó ông nói: “Khi quyền lực đưa con người đến sự ngạo mạn, thơ lại nhắc nhở con người hãy nên hạn chế. Khi quyền lực thu hẹp các lĩnh vực quan tâm của con người, thơ lại nhắc nhở con người về sự đa dạng và đẹp đẽ của sinh tồn. Khi quyền lực bị mua chuộc, thơ làm cho tinh khiết”. J. Kennedy, trong tư cách là người đứng đầu đất nước, hiểu rõ rằng người lãnh đạo là người biết sử dụng quyền lực để tạo ra sức mạnh cho quốc gia, tạo ra sự vĩ đại cho quốc gia. Các thành tựu mà ngày nay Hoa Kỳ có được, một phần quan trọng là nhờ ý thức và tinh thần trên đây được tiếp nối qua các thế hệ lãnh đạo của đất nước này.
Một vị tổng thống khác cũng đánh giá cao thơ ca và nghệ thuật, người đã lãnh đạo không chỉ bằng cách làm gương, mà còn bằng cách truyền cảm hứng cho người dân của mình, khiến họ làm được điều tốt hơn là họ nghĩ, khiến họ có thể vượt lên trên cả kỳ vọng của chính họ, đấy là điều, trong một trường hợp cụ thể, đã giúp đội bóng rugby của Nam Phi giành cúp vô địch thế giới năm 1995. Vị tổng thống ấy hiểu rằng: “Nếu tôi không chịu thay đổi khi hoàn cảnh đòi hỏi thì làm sao tôi có thể yêu cầu mọi người điều đó.” Ông ấy là Nelson Mandela.
Sự hình thành ý thức và kiến thức về giáo dục và quản trị giáo dục chỉ có thể có được khi các nhà quản lý chịu học hỏi. Một trong những cách chịu học là chịu đọc sách, chịu đọc, nếu muốn nói một cách khái quát hơn. Đọc là một cách học nhanh nhất và tiết kiệm nhất, trong bối cảnh hiện nay.
Dĩ nhiên sách không đem lại tất cả mọi câu trả lời. Nhưng sách cho ta biết người khác đã nghĩ gì làm gì để có thể thành công, hay thậm chí thất bại. Từ đó mà suy nghĩ về chính thực tế của mình, và để có thể hành động một cách hiệu quả.
Việc đọc sách, đối với những người lãnh đạo giáo dục các cấp, càng trở nên cần thiết hơn, khi sự tuột dốc của giáo dục để lại những hậu họa khôn lường mà có thể chúng ta chưa nhận thức được một cách đầy đủ. Tình thế toàn cầu hóa khiến cho các nước không thể tự cô lập mà còn có thể giữ được sự yên ổn. Còn một khi đã tham gia vào cục diện chung, nếu nền giáo dục không đào tạo được những con người đủ năng lực đưa đất nước tới sự hội nhập, đủ phẩm chất để chinh phục và được công nhận ở đẳng cấp quốc tế, thì sự tụt hậu rất có thể kéo theo sự lệ thuộc, kéo theo sự nô lệ dưới nhiều hình thức: nô lệ về văn hóa, về kinh tế, về chính trị… Rõ ràng, ở tình thế hiện tại, muốn cải cách giáo dục hay muốn tạo bước đột phá cho giáo dục, thì không còn có thể lãnh đạo theo quán tính, theo định kiến, theo những kinh nghiệm và thói quen đã trở nên lỗi thời hay thậm chí mang tính chất kìm hãm. Cần phải có những phương pháp khoa học và hiệu quả trong quản trị giáo dục. Những ai coi giáo dục là sự nghiệp (chứ không phải chỉ là một phương tiện để mở rộng túi tiền cá nhân) và hiểu được ý nghĩa của giáo dục đối với sự phát triển, đều thấy rằng cải cách quản lý giáo dục, thay đổi quan niệm về giáo dục, là yêu cấp bách, yêu cầu số một, nếu muốn hãm đà tuột dốc của nền giáo dục này và đưa nó ra khỏi cái vực thẳm suy thoái hiện nay.
Sẽ không phải là cường điệu khi nói rằng sự sống còn của nền giáo dục này phụ thuộc vào việc các nhà quản lý giáo dục có chịu học, có muốn đọc sách, có chịu bỏ thời gian đọc sách hay không, có khả năng chọn sách để đọc và xử lý được thông tin trong sách hay không; và cũng phụ thuộc vào việc hàng ngũ quản lý có chấp nhận hay không những người có năng lực lãnh đạo, chịu khó đọc sách và có khả năng biến kiến thức sách vở thành hiệu quả thực tế.
Nguồn: Văn hóa Nghệ An