Trang chủ Tác giả-Tác phẩm Chân dung và Tác phẩm Hoài Thanh và tâm hồn dân tộc qua thơ ca

Hoài Thanh và tâm hồn dân tộc qua thơ ca

0
450

Hoài Thanh và tâm hồn dân tộc qua thơ ca

Nguyễn Thị Thanh Xuân
 

Trong lịch sử phê bình văn học Việt Nam, Hoài Thanh là một tác gia quan trọng. Có thể nói, rất ít trường hợp như Hoài Thanh, người đã chọn con đường phê bình văn học từ rất sớm và chung thủy với nó trong suốt cuộc đời mình – đặc biệt là chuyên về phê bình thơ – và rồi đã thực sự trở thành nhà phê bình tạo được lòng tin nơi người đọc và người sáng tác.

Để có được điều đó, Hoài Thanh đã phải trải qua con đường dài khổ ải và may mắn thay, với bao biến đổi thăng trầm của thời cuộc, ông vẫn giữ được mình, giữ được ở ngòi bút mình cái tư chất đặc biệt quí giá mà Ngô Tất Tố đã có lần nhận xét: “…một người trong sạch, thành thật và có nghị lực trong lớp thanh niên ngày nay”.

Hoài Thanh là một trí thức xuất thân Tây học sớm có ý thức về dân tộc và đất nước. Lần giở lại những trang tài liệu, chúng ta thấy rằng trước Cách mạng tháng Tám, Hoài Thanh cầm bút trong một hoàn cảnh hết sức gian nan: ông đã trải qua những ngày bị bắt bớ giam cầm (1926, sau khi tham gia đảng Tân Việt), bị quản thúc, đuổi việc, treo bút (sau khi viết chung với Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư cuốn Văn chương và hành động, 1936, bị cấm lưu hành); đồng thời ông cũng bị một số đồng nghiệp lên án là thoát ly, bị quy là văn sĩ phú hào, văn sĩ bourgeois…

Bước vào làng văn, Hoài Thanh đã phải làm việc trong một hoàn cảnh và tâm thế như vậy. Giữa lúc ý thức về cá nhân tự do, ý thức về văn chương với tư cách là một bộ môn độc lập, vừa mới phát sinh, đã gặp sự kìm hãm của thời cuộc: một bên là chính sách thực dân cực kỳ hà khắc, một bên là lời kêu gọi của ý thức cộng đồng, người cầm bút với tư cách công dân một nước nô lệ phải dồn mọi tâm sức để giải phóng đất nước.

Rõ ràng là Thi nhân Việt Nam đã ra đời trong cái thế cheo leo ấy – như phần lớn những tác phẩm có giá trị thời bấy giờ – và cũng tồn tại trong tư thế ấy suốt nửa thế kỷ qua.

Nhưng dường như Hoài Thanh ngay từ đầu đã cầm bút không phải chỉ bằng ý thức về nghề mà còn do sự thúc đẩy bởi một cái nghiệp. Đó là thái độ của một người nghệ sĩ đến với văn chương, một người nghệ sĩ yêu thiết tha tiếng nói của giống nòi và hết sức trân trọng những giá trị tinh thần của dân tộc nói riêng và nhân loại nói chung.

Ông sớm xác định cho mình những quan niệm về văn học, rất thâm tín, nhất quán và nghiêm ngặt, mà thể hiện tập trung nhất là những bài báo trong cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” và trong tác phẩm Thi nhân Việt Nam.

Có thể nói, trong các cuộc tranh luận trên báo chí thời bấy giờ, đây là cuộc tranh luận thú vị và quan trọng nhất, đã chạm đến những vấn đề cơ bản nhất của lý luận văn học. Bằng một cách diễn đạt nhẹ nhàng, trong sáng và giàu hình ảnh, Hoài Thanh đã lần lượt trình bày những quan niệm của ông về văn học, phê bình văn học và nhà văn.

Những ý kiến này của Hoài Thanh nằm trong bối cảnh của một cuộc tranh luận nên chưa thể đạt đến một hệ thống chặt chẽ, đầy đủ nhưng đã nói được những vấn đề có tính chất cốt lõi. Và quan trọng hơn, nó bộc lộ một phương thức tiếp cận vấn đề của Hoài Thanh: ông đã bàn đến nghệ thuật bằng cách đi vào cái đẹp, một khái niệm mỹ học có tính chất bao trùm những khái niệm khác, là yếu tố quan trọng làm nên bản chất nghệ thuật.

Hoài Thanh khẳng định tự nhiên là đối tượng được thể hiện, là khách thể của nghệ thuật. Nhưng tự nhiên là gì? – đó là “cảnh trời với lòng người”, đó là “cái hay, cái đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh con người” (1). Đó cũng là “những nơi núi cao, biển rộng, những cuộc sống oanh liệt lạ lùng, những tính tình ly kỳ, những cảm giác mạnh mẽ, những cảnh rực rỡ huy hoàng, cùng những cảnh lầm than đau khổ của ức triệu con người.”(2).

Tự nhiên, theo Hoài Thanh còn là “hình ảnh của quần chúng một thời đại” mà ông khuyên nhà văn “đừng bao giờ bỏ qua dịp in lấy”(3). Như vậy với cách viết hình tượng của Hoài Thanh, tự nhiên gồm đời sống thiên nhiên, đời sống xã hội và đời sống nội tâm của con người. Ông còn nhấn mạnh “Văn chương – tôi không nói văn sĩ – không có quyền luôn luôn ở trên mấy tầng cao thẳm, lãnh đạm ngắm những cảnh phong ba dữ dội ở đời”(4).

Tự nhiên đi vào tác phẩm nghệ thuật như thế nào? Ông trích dẫn ý kiến của André Gide: “Văn nghệ không phải chỉ làm công việc một tấm gương”(5). Đi vào tác phẩm nghệ thuật qua con đường thi cảm, mỹ cảm của người nghệ sĩ, tự nhiên trong nghệ thuật là giá trị mang tính phát hiện từ tinh thần nhân đạo: “Nhà văn sáng tạo ra những thế giới khác, sự sáng tạo này xuất phát từ mối tình yêu thương tha thiết, yêu thương ngay từ những điều chưa có trong thực tế, để gọi nó vào thực tế”(6).

Cũng trong bài viết trên, Hoài Thanh cũng đã cắt nghĩa ngọn nguồn của hoạt động sáng tạo nghệ thuật: “Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thơ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình. Thi sĩ thương xót quá, khóc nức lên, quả tim cùng hòa nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, nhịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca (…). Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người, và rộng ra là thương cả muôn vật muôn loài”. Xuất phát từ cảm hứng nhân đạo, nghệ thuật đem đến cho con người điều gì? Hoài Thanh nói tiếp: “Cuộc sinh hoạt vật chất như một tấm màn đen ngăn tri giác người ta với thâm chân. Vén tấm màn đen ấy, tìm những cái hay, cái đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh người ta, rồi mượn câu văn, tấm đá, bức tranh làm cho người ta cùng nghe, cùng cảm, đó là nhiệm vụ của nghệ thuật, và nói riêng ra, cũng là nhiệm vụ của văn chương”.

Theo đó, Hoài Thanh cho rằng nghệ thuật có nhiệm vụ đem đến cho con người cái chân (“thâm thân”) cái thiện (“cái hay”) cái mỹ (“cái đẹp”) và nghệ thuật cũng chính là chân – thiện – mỹ. Ông khẳng định tác dụng của văn chương: “Văn chương vốn có ảnh hưởng lớn vì văn chương hun đúc phần tình cảm của người đời, đáp ứng nhu cầu xã hội và hợp với sự nhu yếu của cuộc sinh hoạt bây giờ” (7). Hơn thế, theo Hoài Thanh, văn chương còn đánh thức khát vọng tiềm ẩn và gây nên chất men phản kháng ở mỗi con người: “Nghệ thuật phải có sức giúp người ta phản động lại với hoàn cảnh cùng bẩm thụ tự nhiên”. Và “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện nhũng tình cảm ta sẵn có; cuộc đời phù phiếm chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm ngàn lần” (8).

Cũng chính trong cuộc tranh luận này, trên Tràng An (I, 10-1935), Hoài Thanh xác định mục đích sau cùng của nghệ thuật: “Nói cho cùng, nghệ thuật nào mà chẳng vị nhân sinh, không vì cái sinh hoạt vật chất thì cũng vì cái sinh hoạt tinh thần của người ta”.

Lấy hình ảnh “hoa” và “quả”, ông muốn phân biệt rõ hơn cách đóng góp của văn học vào đời sống, khác với những hoạt động thực tiễn khác. Muốn làm tròn sứ mệnh trên, Hoài Thanh cho rằng nghệ thuật trước hết phải thực sự xứng đáng với tên gọi của mình, một tác phẩm văn chương phải đáp ứng đầy đủ nhũng yêu cầu nội tại của nó, trước khi đáp ứng những yêu cầu bên ngoài. Đó là ý nghĩa các luận điểm “văn chương muốn gì thì gì, trước hết (NTTX nhấn mạnh) cũng phải là văn chương đã”, “văn chương khác, chính trị khác”. “Trong khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, có lẽ cố nhiên phải để nghệ thuật lên trên, lẽ cố nhiên phải chú ý đến cái đẹp trước khi chú ý đến những tính cách phụ, những hình thức tạm thời của nó”.

Ở đây Hoài Thanh thể hiện một quan điểm hết sức nghiêm ngặt về nghệ thuật. Ông ý thức sâu sắc yêu cầu của bản chất, đặc trưng và tính chất của nghệ thuật bên cạnh những hình thức khác. Phản ứng lại một lối tư duy nghệ thuật bị ràng buộc bởi một hoàn cảnh xã hội đặc thù luôn luôn đòi hỏi nghệ thuật phải là tiếng nói phát ngôn cho ý thức cộng đồng theo một quy phạm nhất định, Hoài Thanh đôi lúc khá cực đoan. Ông không chỉ tranh luận bằng lý lẽ mà còn bằng cả nỗi xúc động của mình. Những liên tưởng của ông, tuy khó chấp nhận vào thời điểm lúc bấy giờ, nhưng ngày nay nhìn lại, ta thấy không phải là không có lý: “Sáng nay tôi ngồi nghĩ vẩn vơ đến những sự không may của văn chương. Trên đường đi từ trước đến bây giờ, văn chương ta thực đã gặp nhiều sự không may. Ngày xưa thì phải khoác bộ áo đen đóng vai công tử, ngày nay người ta lại phủ cho tấm áo rách tươm của con nhà lao động, nhưng dầu xưa dầu nay, ít khi được ta nhận thấy cái chân tướng lộng lẫy của nó” (9).

Hoài Thanh đã đặt vấn đề nhận thức lại về nghệ thuật trong sự bùng nổ của ý thức cá nhân trước nhu cầu tự nhận thức và tự biểu hiện của dân tộc và thời đại. Khi phân biệt quá rạch ròi giữa nhà văn với tư cách công dân và nhà văn với tư cách nghệ sĩ, khi nhấn mạnh đến “bản chất thuần tuý của văn chương”, Hoài Thanh đã vô tình thu hẹp phạm vi ảnh hưởng của nghệ thuật và hạ thấp sứ mệnh của nhà văn. Ông viết: “Cho nên, một đôi khi vì sự tình cờ một tác phẩm văn nghệ có thể ảnh hưởng đến chính trị, tôn giáo, đạo đức nhưng đó chỉ là sự tình cờ, và nói cho đúng ra, nếu xét về phương diện ấy, tác phẩm không còn giữ cái bản thất thuần tuý của nó nữa. Nhà văn là người sống giữa xã hội, cố nhiên tùy sức mình làm hết phận sự đối với xã hội, tôi muốn nói nhà văn có lúc phải bênh vực kẻ yếu, chống lại sức mạnh của tiền tài súng đạn, nhưng trong lúc đó nhà văn không làm văn nữa mà chỉ làm cái phận sự của người cầm bút mà thôi. Ta nên nhớ rằng cầm bút chưa phải là viết văn. Văn chương là vật quý có đâu nhiều đến thế!” (10).

Thực ra, con người công dân và con người nghệ sĩ có khoảng cách tương đối nhất định, nhưng người nghệ sĩ vẫn có khả năng bênh vực kẻ yếu, chống lại thế lực của cái ác bằng cách của riêng mình, qua tác phẩm. Văn nghệ với phạm vi ảnh hưởng rộng lớn của nó, đã tác động trên tất cả các lĩnh vực khác của đời sống, ở tất cả những gì thuộc về con người. Tất nhiên, tác động này không thể là sự tình cờ mà là xuất phát từ sức sáng tạo của nhà văn. Có lẽ ở đây Hoài Thanh muốn phân biệt điểm xuất phát, mục tiêu hướng đến, cùng tác dụng của văn học.

Văn học nghệ thuật, theo Hoài Thanh, là tiếng nói của trái tim, của cảm xúc thẩm mỹ, của trí tuệ và ý kiến cá nhân. Đó là một hoạt động hoàn toàn tự nguyện, tự giác nên nó phải được đối xử đúng như bản chất của nó vậy. Ở đây, ta nhớ đến ý kiến sâu sắc của K.Marx: “Muốn bảo vệ – và ngay cả để đạt đến – quyền tự do của một lĩnh vực nhất định nào đấy, tôi cần phải xuất phát từ cái tính chất cốt tử của lĩnh vục này, chứ không phải từ những quan hệ từ bên ngoài của nó” (11).

Cắt nghĩa vì sao di sản văn học ta không giàu có như người, Hoài Thanh nêu mấy nguyên nhân:

– Sự kiềm chế của xã hội: “Những dây quan hệ quá chặt chẽ, nó ràng buộc mọi người trong xã hội. Cá nhân, bản sắc cá nhân là điều huyễn tưởng, một điều không có. Cá nhân chìm lấp trong đoàn thể như giọt nước trong làn sóng biển (…). Một dân tộc khinh miệt cá nhân, không biết đến cá nhân không thể có được một nền văn chương phong phú là sự tất nhiên vậy”.

– Sự chuyên chế của phép tắc làm văn

Chính vì tất cả những nguyên nhân trên mà theo Hoài Thanh, “Văn chương ta luôn luôn đi bên cạnh sự giả dối bịa đặt. Nhà văn chỉ lo viết thế nào cho đúng với lẽ phải của xã hội mà không cần đúng với sự thực tự nhiên. Văn chương thành ra một cách để dối mình và dối người” (12).

Nhận định về giai đoạn đương thời, ông viết trên Tràng An (29-10-1935): “Cứ như tình hình nước ta ngày nay, nội sự kiềm chế và bóp nghẹt của pháp luật, sự thúc bách của cuộc sinh nhai hàng ngày cũng đã khổ cho nhà văn rồi, nếu còn thêm sự kiềm chế của dư luận thì thực chẳng còn biết đặt bút vào chỗ nào”.

Một mặt, Hoài Thanh kêu gọi xã hội tạo điều kiện hoạt động tự do cho nhà văn: “Cái đích của tôi trong cuộc biện luận này không có gì khác hơn là yêu cầu nhà văn được hưởng một tí tự do giữa một xã hội, một thế giới đầy sự kiềm tỏa như xã hội ngày nay”. Mặt khác, ông kêu gọi nhà văn phải giữ đúng cốt cách của mình, dám chịu trách nhiệm về mình, làm chủ trong hoạt động sáng tạo chống lại những áp lực bên ngoài, cũng như những hạn chế của bản thân: “Giá trị của mỗi nhà văn chính là ở chỗ phải biết phản động lại sức đè nén của nó, chính là ở chỗ biết phát huy cái bản sắc của mình, mặc dù những điều ngăn trở của đoàn thể. Bằng không, tác phẩm nhà văn do hoàn cảnh một thời tạo ra sẽ chỉ là tác phẩm nhất thời mà thôi” (13), “Vì đặc tính của văn chương vô luận tả cảnh hay tả tình là phản động lại sức đè nén của đoàn thể, phản động lại những thành kiến thông thường, nhà văn phải biết nghe, biết thấy, biết cảm xúc, biết suy nghĩ một cách khác thường, sâu sắc hơn thường” (14).

Tóm lại, yêu cầu chủ yếu của Hoài Thanh đối với nhà văn là sự thành thực, hãy dám là mình để tránh được những “cái vỏ khách sáo” và những “tình ý chạy rông ngoài đường phố”. Ông kết luận: “Thành thực cũng như tự do là điều kiện cốt yếu để gây nên nền văn chương phong phú” nhưng ông thêm, thành thực phải kèm theo tài năng, khi khẳng định sự thực, phải là sự thực trong phát hiện nghệ thuật.

Bên cạnh những ý kiến quan trọng trên đây, Hoài Thanh còn đề cập đến những vấn đề khác như đề tài và cảm hứng của văn học; nội dung và hình thức; giá trị nhất thời và giá trị trường cửu của tác phẩm văn học; mối quan hệ giữa nhà văn, nhà phê bình và độc giả; phương pháp tiếp cận một tác phẩm văn học…

Hoài Thanh quan niệm rằng xuất phát từ đời sống tự nhiên và đời sống tâm linh của con người, đề tài, nội dung và cảm hứng của văn học – tất cả những gì đem lại cảm hứng nhân đạo và cảm xúc thẩm mỹ cho nhà văn – là không giới hạn, do đó, tác phẩm văn học phải đa dạng về cảm hứng, đề tài, nội dung, phong cách. “Cái đẹp của trăm hoa quí ở chỗ hương sắc khác nhau. Nhà văn cũng vậy. Nếu vô luận nhà văn nào cũng phải viết lối văn có tính cách xã hội, cả những người không có biệt tài về lối văn ấy cũng vậy, thì đã không có ích gì cho ai mà còn có hại” (15).

Ở đây, ý kiến của Hoài Thanh đã gặp gỡ một tư tưởng của Karl Marx: “Anh ngây ngất trước vẻ đa dạng tuyệt vời, trước sự phong phú vô tận của tự nhiên. Anh sẽ không yêu cầu bông hồng thơm mùi thơm của bông violette. Vậy tại sao anh lại yêu cầu cái kho tàng phong phú nhất là tinh thần chỉ được tồn tại dưới một hình thúc mà thôi?” (16). Nhưng đồng thời Hoài Thanh cũng thấy rằng có những đề tài cần chú ý hơn trong văn chương đương thời: …”Hướng về bình dân để chống lại xu hướng quý phái, xu hướng phản tự nhiên từ trước đến nay. Hướng về bình dân là hướng về một thế giới mới mẻ, một kho tài liệu vô tận cho văn chương mà văn chương chưa dùng đến” (17). Đề tài bình dân, theo ông, cụ thể là “những người chân lấm tay bùn, người nhà quê “được tái hiện trong tất cả các phương diện của đời sống vật chất và tinh thần của họ (cả những biểu hiện mê tín dị đoan đến những tín điều, những sinh hoạt văn hóa), đó là “những cảm giác và tính tình thâm thiết trong tâm linh chủng tộc”. Ông khuyên nhà văn hãy nghiên cứu thần thoại, ca dao để hiểu hơn về đời sống tinh thần của dân tộc, mà Nguyễn Du với Văn chiêu hồn là một tấm gương lớn.

Về nội dung và hình thức của một tác phẩm văn học, Hoài Thanh đã chưa lý giải dầy đủ và thuyết phục: “Nội dung (Truyện Kiều) theo tôi, là những tình, những cảnh, những hình tượng, những âm điệu, tất cả những gì biểu hiện tài Nguyễn Du, hay nói vắn tắt hơn, nội dung Truyện Kiều chính là văn chương Truyện Kiều vậy. Còn triết lý chỉ là một cái vỏ, một cái khung, giá có cất đi cũng không hại gì&rdqu

0 BÌNH LUẬN